Phần thứ nhất: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
18:58:55 10/12/2014

Phần thứ nhất

CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG

 

Câu hỏi 1: Phạm vi và trách nhiệm kiểm tra, giám sát của các tổ chức cơ sở đảng như thế nào?

 

Trả lời:

 

- Các tổ chức đảng có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, của cấp ủy cấp trên, của cấp mình và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh.

 

- Các tổ chức cơ sở đảng (chi bộ, đảng ủy) kiểm tra, giám sát bằng cách chủ yếu sau đây:

Thông qua chế độ hội ý, hội báo phản ánh tình hình giữa đảng ủy (ban thường vụ) với các tổ chức đảng trực thuộc, giữa chi ủy với các tổ trưởng tổ đảng; qua sinh hoạt thường kỳ, qua tự phê bình và phê bình, phân tích chất lượng đảng viên, tổ chức đảng; qua bình xét chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh và kiểm tra, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm về lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của đảng ủy, chi ủy, chi bộ, tổ đảng và của cán bộ, đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

 

- Cùng với việc kiểm tra, giám sát thường xuyên, đảng ủy, chi bộ cần có chương trình, kế hoạch kiểm tra định kỳ theo thời gian hoặc theo thời vụ, chu kỳ sản xuất, đợt vận động hoặc giám sát theo chuyên đề đối với tổ chức đảng và đảng viên sinh hoạt và hoạt động trong đảng bộ, chi bộ về những nội dung cần thiết.

 

- Khi có tổ chức đảng hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm, bị tố cáo hoặc khi có yêu cầu kiểm tra của tổ chức đảng cấp trên thì có kế hoạch tiến hành kiểm tra theo đúng mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, thẩm quyền, quy trình thủ tục.

 

Câu hỏi 2: Đảng viên có trách nhiệm gì đối với công tác kiểm tra, giám sát?

Trả lời:

 

Đảng viên có trách nhiệm tham gia công tác kiểm tra giám sát và chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng.

 

Đảng viên phải thường xuyên tự kiểm tra trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và nhiệm vụ đảng viên, đồng thời nhắc nhở, đôn đốc đảng viên khác trong chi bộ, đảng bộ chấp hành. Thực hiện tốt tự phê bình và kịp thời phát hiện, phê bình trung thực, chân thành, thẳng thắn đối với đảng viên và tổ chức đảng trong chi bộ, đảng bộ có khuyết điểm hoặc có dấu hiệu vi phạm. Tích cực tham gia công tác kiểm tra, giám sát theo chương trình, kế hoạch kiểm tra giám sát của chi bộ, đảng ủy hoặc theo yêu cầu của cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên.

 

Mọi hoạt động của đảng viên đều phải chịu sự kiểm tra của chi bộ và các tổ chức đảng có thẩm quyền. Khi cấp ủy và ủy ban kiểm tra yêu cầu báo cáo, cung cấp tài liệu về những vấn đề có liên quan đến công tác kiểm tra, đảng viên phải thực hiện đầy đủ, không gây khó khăn, trở ngại cho công tác kiểm tra.

 

Câu hỏi 3: Phương pháp tiến hành công tác kiểm tra, giám sát của Đảng như thế nào?

 

Trả lời:

 

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là công tác đảng, là sinh hoạt đảng. Vì vậy, tiến hành công tác kiểm tra, giám sát phải giữ đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đúng tính chất công tác đảng.

 

Phương pháp cơ bản tiến hành công tác kiểm tra, giám sát là: dựa vào tổ chức đảng; phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên; phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng; làm tốt công tác thẩm tra, xác minh đối với công tác kiểm tra; phối hợp chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán của Nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội.

 

Câu hỏi 4: Vì sao công tác kiểm tra, giám sát phải dựa vào tổ chức đảng?

 

Trả lời:

 

Tổ chức đảng là cơ quan lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới. Có dựa vào tổ chức đảng thì cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên mới có cơ sở để hiểu rõ đặc điểm, tình hình của đảng bộ, những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, ưu điểm, khuyết điểm, dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên tạo điều kiện cho việc xem xét, nhận xét đánh giá hoặc kết luận được kịp thời, chính xác. Mặt khác, cũng thông qua tổ chức đảng để giáo dục, đấu tranh, giúp đỡ, tạo điều kiện để đảng viên nhận rõ khuyết điểm, vi phạm (nếu có) để khắc phục, sửa chữa, tiến bộ. Đồng thời, giúp tổ chức đảng thấy được trách nhiệm của mình trong việc quản lý, giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát đảng viên để điều chỉnh kịp thời.

 

Câu hỏi 5: Vì sao công tác kiểm tra, giám sát phải phát huy tinh thần tự giác của đảng viên và tổ chức đảng?

Trả lời:

Đảng viên là những chiến sĩ tiên phong tự nguyện xin gia nhập Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tổ chức đảng được thành lập theo nguyên tắc tổ chức và cơ cấu tổ chức của Đảng có mục tiêu và nhiệm vụ chính trị rõ ràng, do Điều lệ Đảng quy định. Đó là cơ sở tư tưởng và tổ chức để đảng viên và tổ chức đảng tự giác chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ được giao, tự giác chịu sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng có thẩm quyền và tự kiểm tra. Cùng với việc tổ chức đảng trực tiếp quản lý nắm được ưu điểm, thiếu sót, khuyết điểm, dấu hiệu vi phạm của đảng viên, tổ chức đảng thì chính đảng viên và tổ chức đảng sẽ tự biết được ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế, dấu hiệu vi phạm của mình, tự mình tự giác, tự nguyện tự phê bình, kiểm điểm thì sẽ giúp việc kiểm tra, giám sát rút ngắn thời gian, có chất lượng, hiệu quả. Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát phải phát huy tinh thần tự giác của đảng viên và tổ chức đảng.

 

Câu hỏi 6: Vì sao công tác kiểm tra, giám sát phải phát huy tinh thần trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng?

Trả lời:

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Một trong những phương châm xây dựng Đảng là tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng Đảng, góp phần kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, kiểm tra, giám sát công tác và phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Quần chúng gắn bó với tổ chức đảng và đảng viên. Mọi hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên, kể cả ưu điểm, thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế, dấu hiệu vi phạm, quần chúng luôn luôn quan tâm và nhận biết. Vì vậy, công tác kiểm tra phải phát huy tinh thần trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng. Những ý kiến đóng góp của quần chúng đối với tổ chức đảng và đảng viên sẽ giúp thêm cơ sở để tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, kết luận được khách quan, chuẩn xác.

 

Câu hỏi 7: Vì sao kiểm tra phải làm tốt công tác thẩm tra, xác minh?

Trả lời:

Yêu cầu cơ bản trong công tác kiểm tra là phải đánh giá, kết luận đúng ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) của tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra để có quyết định chính xác. Muốn vậy, ngoài việc phải dựa vào tổ chức đảng, phải phát huy tinh thần tự giác tự phê bình của đảng viên và tổ chức đảng, phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng, phải hết sức coi trọng và làm tốt công tác thẩm tra, xác minh.

Thực tiễn cho thấy có nhiều tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, khi được kiểm tra đã tự giác tự phê bình, kiểm điểm nghiêm túc trước tổ chức đảng có thẩm quyền nhưng cũng có không ít tổ chức đảng và đảng viên quanh co, giấu giếm khuyết điểm, vi phạm, thậm chí tìm mọi cách đối phó, gây khó khăn, trở ngại đối với công tác kiểm tra hoặc khuyết điểm, vi phạm lộ đến đâu thì nhận đến đó. Tổ chức đảng quản lý đảng viên và tổ chức đảng được kiểm tra, có nơi còn hữu khuynh, thiếu tinh thần chiến đấu, thậm chí dung túng, bao che cho đảng viên và tổ chức đảng vi phạm.

Mặt khác, mọi hoạt động của đảng viên và tổ chức đảng bao giờ cũng diễn ra trong không gian, thời gian, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, với những diễn biến, tình tiết khác nhau; nhiều khi có liên quan đến nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều cấp, ở nhiều địa điểm, thời gian khác nhau; có việc còn giữ nguyên bằng chứng, có việc bằng chứng đã bị thất lạc hoặc thay đổi để xác định rõ đối tượng vi phạm, nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân của vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để có kết luận chính xác, xử lý công minh, chính xác, kịp thời; đòi hỏi khi tiến hành kiểm tra phải coi trọng và làm tốt công tác thẩm tra, xác minh; chưa thẩm tra, xác minh thì chưa được kết luận.

 

Câu hỏi 8: Chi ủy có phải là tổ chức đảng không? Nếu là tổ chức đảng thì có phải là chủ thể là đối tượng kiểm tra, giám sát không?

Trả lời:

Khoản 4, Điều 24 Điều lệ Đảng hóa XI quy định: "Chi bộ có dưới chín đảng viên chính thức, bầu bí thư chi bộ; nếu cần bầu phó bí thư. Chi bộ có chín đảng viên chính thức trở lên, bầu chi uỷ, bầu bí thư và phó bí thư chi bộ trong số chi uỷ viên".

Tiết 1.1.1 và Tiết 1.1.2, Điểm 1.1, Khoản 1 Điều 30 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Chủ thể kiểm tra và giám sát: Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở; cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ từ cấp trên cơ sở trở lên; uỷ ban kiểm tra; các ban đảng, văn phòng cấp uỷ, cơ quan uỷ ban kiểm tra (gọi chung là các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ); ban cán sự đảng, đảng đoàn (chỉ là chủ thể kiểm tra).

Đối tượng kiểm tra và giám sát: Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở; cấp uỷ, ban thường cấp uỷ, thường trực cấp uỷ từ cấp trên cơ sở trở lên; uỷ ban kiểm tra; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ; ban cán sự đảng, đảng đoàn; đảng viên".

Như vậy, theo các quy định trên thì chi ủy là tổ chức đảng, nhưng thực tế cho thấy mọi hoạt động của chi ủy đều do chi bộ lãnh đạo và quyết định, ra nghị quyết, chi ủy chỉ có trách nhiệm chuẩn bị nội dung sinh hoạt, hoạt động của chi bộ, chi ủy không có thẩm quyền ra nghị quyết, không có thẩm quyền thi hành kỷ luật. Vì vậy, chi ủy không phải là chủ thể và đối tượng kiểm tra, giám sát.

 

Câu hỏi 9: Đảng viên chưa đủ một năm tuổi Đảng có được bầu vào cấp uỷ Đảng không?

Trả lời:

Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 4-8-2009 của Bộ Chính trị (khóa XI) về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ:

"Việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự cấp uỷ khoá mới căn cứ vào tiêu chuẩn chung của cán bộ được quy định trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá VIII) về Chiến lược cán bộ. Cụ thể là:

- Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.

- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Cần đặc biệt nhấn mạnh tiêu chuẩn về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao; uy tín trong Đảng, trong xã hội; tư duy đổi mới, khả năng tiếp cận, nắm bắt, xử lý vấn đề mới và vấn đề phức tạp nảy sinh; khả năng đoàn kết, quy tụ; phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Lãnh đạo chủ chốt của cấp uỷ phải thực sự tiêu biểu về bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và sự cống hiến, có uy tín trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; nói chung đã kinh qua lãnh đạo chủ chốt cấp dưới.

Không cơ cấu vào cấp uỷ những cán bộ, đảng viên mà bản thân hoặc vợ (chồng), con vi phạm các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vi phạm những điều đảng viên, cán bộ, công chức không được làm.

Trên cơ sở tiêu chuẩn chung, các cấp uỷ xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với từng đối tượng, từng chức danh cán bộ trong từng loại hình tổ chức, cơ quan, địa phương, đơn vị, sát hợp với yêu cầu nhiệm vụ của mỗi đảng bộ".

Như vậy, theo các quy định trên, không quy định đảng viên chưa đủ một năm tuổi Đảng thì không được bầu vào cấp uỷ.

 

Câu hỏi 10: Chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở xã có số lượng đảng viên ít (từ 3-5 đồng chí), mức thu nhập thấp, lại ở phân tán; đảng uỷ xã cho phép chi bộ trích lại 50% tiền đảng phí thu được, 50% nộp lên đảng ủy cơ sở xã. Như vậy là đúng hay sai?

Trả lời:

Tiết a, Điểm 1.1, Khoản 1 Mục II trong Công văn số 141-CV/VPTW/nb ngày 17-3-2011 của Văn phòng Trung ương Đảng hướng dẫn thực hiện Quyết định số 342-QĐ/TW ngày 28-12-2010 của Bộ Chính trị về chế độ đảng phí quy định: "Các chi bộ trực thuộc đảng bộ xã, phường, thị trấn; các chi bộ đại hội; chi bộ đồn, tàu biên phòng, tàu hải quân, tàu cảnh sát biển; các chi bộ đài, trạm ra đa; chi bộ đóng quân ở các xã biên giới vùng sâu, vùng xa, trên các đảo được trích lại 50%, nộp lên cấp uỷ cấp trên 50%".

Trường hợp nêu trên, đảng uỷ xã cho phép chi bộ trực thuộc được trích để lại 50% đảng phí thu được là đúng quy định theo quyết định của Bộ Chính trị.

 

Câu hỏi 11: Tại đại hội đảng bộ cơ sở, đồng chí Y được giới thiệu tham gia cấp uỷ khoá mới (2010 - 2015) nhưng đã xin rút khỏi danh sách bầu cử. Đoàn chủ tịch đại hội không cho rút, kết quả bầu cử: đồng chí Y không trúng cử cấp uỷ khoá mới. Có ý kiến cho rằng đoàn chủ tịch cố ý hạ uy tín đồng chí Y.

Ý kiến đó có đúng không?

Trả lời:

Tiết 1.3, Khoản 1 Điều 10 trong Quy chế bầu cử trong Đảng, ban hành kèm theo Quyết định số 220-QĐ/TW ngày 17-4-2009 của Bộ Chính trị khoá X quy định nhiệm vụ của Đoàn chủ tịch đại hội đảng. Một trong các nhiệm vụ đó là: "Tổng hợp danh sách những người ứng cử, đề cử và những người xin rút; xem xét, quyết định cho một số người được rút hoặc không được rút khỏi danh sách bầu cử; trường hợp còn nhiều ý kiến chưa thống nhất thì đoàn chủ tịch xin ý kiến của đại hội; lập danh sách bầu cử, lấy biểu quyết của đại hội thông qua danh sách bầu cử".

Như vậy, việc không cho đồng chí Y rút khỏi danh sách bầu cử thuộc thẩm quyền của Đoàn chủ tịch. Nếu đại hội đã biểu quyết thông qua danh sách bầu cử và đồng chí Y có tên trong danh sách đó thì Đoàn chủ tịch đã thực hiện đúng quy định. Do vậy, ý kiến như câu hỏi nêu trên là không đúng.

 

Câu hỏi 12: Một đảng viên bị xóa tên trong thời gian dự bị vì sinh con thứ ba vào năm 2004, đến nay đã có quá trình phấn đấu tích cực và có nguyện vọng được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Trường hợp này có kết nạp Đảng được không?

Trả lời:

Điểm 9.2, Mục 9 Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng nêu rõ: "Đối tượng không xem xét kết nạp lại: Không xem xét, kết nạp lại những người trước đây ra khỏi Đảng vì lý do: vi phạm lịch sử chính trị và chính trị hiện nay theo quy định của Bộ Chính trị; tự bỏ sinh hoạt đảng; làm đơn xin ra Đảng (trừ trường hợp vì lý do gia đình đặc biệt khó khăn); gây mấtđoàn kết nội bộ nghiêm trọng; bị phạt tù vì tội tham nhũng; bị án hình sự từ mức nghiêm trọng trở lên".

Như vậy, theo quy định trên thì trường hợp đảng viên bị xóa tên trong thời gian dự bị vì sinh con thứ ba vẫn được kết nạp lại vào Đảng. Tuy nhiên, việc xét kết nạp lại đảng viên phải căn cứ vào quá trình phấn đấu, rèn luyện và việc chấp hành chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước của đối tượng được xét kết nạp lại và yêu cầu của công tác xây dựng Đảng tình hình thực tế của từng đảng bộ để tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Nguồn: http://dangcongsan.vn/