Phần thứ hai: Ủy ban kiểm tra các cấp
18:57:53 10/12/2014

Phần thứ hai

ỦY BAN KIỂM TRA CÁC CẤP

Câu hỏi 13: Cấp uỷ nào thì được bầu ủy ban kiểm tra? Nơi cấp ủy không được bầu ủy ban kiểm tra thì ai phụ trách công tác kiểm tra?

Trả lời:

Từ đảng ủy cơ sở trở lên, cấp ủy bầu ủy ban kiểm tra của cấp mình. Ở các đảng ủy bộ phận và chi bộ theo quy định của Đảng không được bầu ủy ban kiểm tra thì tập thể cấp ủy đó có trách nhiệm tiến hành công tác kiểm tra và phân công một đồng chí cấp ủy viên, chi ủy viên phụ trách công tác kiểm tra.

Ngoài ra, đảng ủy bộ phận có thể phân công một số đảng viên có khả năng, điều kiện để giúp đồng chí cấp ủy viên được phân công làm công tác kiểm tra.

Câu hỏi 14: Kiểm tra đảng viên của ủy ban kiểm tra khác với kiểm tra, phân tích chất lượng đảng viên theo định kỳ, với tự phê bình và phê bình thường xuyên của đảng viên như thế nào?

Trả lời:

Kiểm tra, phân tích chất lượng đảng viên là nhiệm vụ của các chi bộ và cấp ủy cơ sở, tiến hành định kỳ hằng năm đối với tất cả đảng viên của mọi tổ chức cơ sở đảng, theo nội dung hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và ban tổ chức cấp ủy các cấp. Tự phê bình và phê bình là sinh hoạt thường xuyên của đảng viên và của các tổ chức đảng.

Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp do Điều lệ Đảng quy định cho ủy ban kiểm tra các cấp, là kiểm tra từng cá nhân đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm theo nội dung và mốc thời gian do ủy ban kiểm tra các cấp xác định, có tiến hành thẩm tra, xác minh, có vận dụng hình thức tự phê bình và phê bình để làm rõ đúng, sai những nội dung được kiểm tra, có kết luận đối với từng đảng viên về ưu điểm, kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, về thiếu sót, khuyết điểm và nếu có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải xem xét, xử lý kỷ luật kịp thời, nghiêm minh.

Đó là những điểm khác nhau quan trọng giữa kiểm tra đảng viên của ủy ban kiểm tra với kiểm tra, phân tích chất lượng đảng viên theo định kỳ và tự phê bình và phê bình thường xuyên của đảng viên.

Câu hỏi 15: Ủy ban kiểm tra làm việc theo chế độ tập thể như thế nào?

Trả lời:

Ủy ban kiểm tra làm việc theo chế độ tập thể là mọi việc thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra theo quy định của Điều lệ Đảng và quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra do cấp ủy quyết định ban hành đều phải bàn bạc tập thể và quyết định theo đa số.

Việc bàn bạc tập thể của ủy ban kiểm tra chủ yếu thông qua chế độ hội nghị. Trong hội nghị, mọi thành viên ủy ban kiểm tra phát biểu thảo luận và tỏ rõ chính kiến của mình. Việc quyết định của ủy ban kiểm tra chủ yếu là thông qua việc bỏ phiếu kín. Đối với những vấn đề quan trọng, nếu kết quả bỏ phiếu kín không quá bán, thì tập thể ủy ban kiểm tra có thể tiếp tục thảo luận và bỏ phiếu biểu quyết quyết định lại. Việc tiếp tục thảo luận và bỏ phiếu biểu quyết quyết định lại do tập thể ủy ban kiểm tra quyết định. Trường hợp bỏ phiếu biểu quyết quyết định lại mà vẫn không quá bán thì báo cáo cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên quyết định. Khi bỏ phiếu biểu quyết quyết định, phiếu của các thành viên ủy ban kiểm tra đều có giá trị như nhau.

Câu hỏi 16: Ủy ban kiểm tra làm việc dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ cùng cấp như thế nào?

Trả lời:

Ủy ban kiểm tra làm việc dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp là phải báo cáo với cấp ủy cùng cấp tình hình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra, báo cáo chủ trương, kế hoạch, nhiệm vụ công tác của ủy ban kiểm tra từng thời kỳ; nghiêm chỉnh chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy về công tác kiểm tra, quyết định của cấp ủy về quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra và các nhiệm vụ do cấp ủy giao; chịu sự lãnh đạo và kiểm tra, giám sát của cấp ủy về mọi hoạt động của mình.

Câu hỏi 17: Ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở được ủy ban kiểm tra huyện ủy kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên, giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng. Trong kết luận có nêu là lập hồ sơ không đầy đủ. Vậy hồ sơ giải quyết tố cáo và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng gồm những văn bản gì?

Trả lời:

Trong hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về việc lập hồ sơ và nội dung của từng loại hồ sơ của ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở như sau:

1- Hồ sơ giải quyết tố cáo, gồm có:

- Đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo bằng miệng (nếu có nhiều đơn thì lưu giữ theo thứ tự thời gian, các đơn trùng lập nội dung thì chỉ lưu giữ một đơn).

- Văn bản tóm tắt nội dung đơn tố cáo và yêu cầu ủy ban kiểm tra đối với đảng viên hoặc chi ủy, chi bộ bị tố cáo.

- Báo cáo giải trình của đảng viên hoặc tổ chức đảng bị tố cáo.

- Các tài liệu thẩm tra, xác minh.

- Biên bản các cuộc họp của chi bộ, ủy ban kiểm tra...

- Báo báo kết quả giải quyết tố cáo.

- Thông báo kết luận của ủy ban kiểm tra hoặc của cấp ủy về nội dung tố cáo.

2- Hồ sơ giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, gồm có:

- Quyết định và tài liệu có liên quan đến quyết định thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại trước đây (nếu có).

- Đơn khiếu nại kỷ luật của đảng viên (nếu có nhiều đơn thì lưu giữ theo thứ tự thời gian, các đơn trùng lắp nội dung thì chỉ lưu giữ một đơn).

- Các tài liệu thẩm tra, xác minh.

- Biên bản các cuộc họp, buổi làm việc giải quyết khiếu nại.

- Báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại.

- Quyết định giải quyết khiếu nại của ủy ban kiểm tra hoặc cấp ủy có thẩm quyền về giải quyết khiếu nại.

Câu hỏi 18: Khoản 5, Điều 32 Điều lệ Đảng quy định nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra các cấp là: "Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp". Đề nghị giải thích rõ nội dung kiểm tra tài chính mà ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở cần phải làm?

Trả lời:

Điểm 6.2, Khoản 6 Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định đối tượng kiểm tra tài chính của ủy ban kiểm tra các cấp như sau: "Cấp uỷ cấp dưới và cơ quan tài chính cấp uỷ cùng cấp. Khi cần thiết thì kiểm tra tài chính các cơ quan, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp trực thuộc cấp uỷ cùng cấp".

Để cụ thể hóa Hướng dẫn trên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nêu rõ nội dung kiểm tra tài chính của Đảng ở cơ sở xã, phường, thị trấn trong tài liệu huấn luyện nghiệp vụ về công tác kiểm tra giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng, như sau:

1- Kiểm tra việc thu, chi ngân sách (từ ủy ban nhân dân chuyển sang; từ đảng phí và các nguồn thu khác); việc chấp hành các nguyên tắc, chế độ thu, chi, việc chấp hành chế độ kế toán và quyết toán định kỳ.

- Việc bảo đảm trợ cấp về tài chính cho cán bộ, đảng viên cơ sở.

- Việc chi tiêu, cấp phát sách báo.

-  Việc mở sổ, ghi chép, lưu trữ chứng từ thu, chi; việc quản lý sử dụng tài sản được cấp.

2- Kiểm tra việc thu nộp đảng phí:

- Kiểm tra việc thu nộp, sử dụng đảng phí của chi bộ.

- Kiểm tra việc đảng viên nộp đảng phí; việc thực hiện quyết định miễn đóng đảng phí đối với đảng viên; việc trích nộp theo tỷ lệ và sử dụng đảng phí.

- Kiểm tra bàn giao đảng phí ở những chi bộ mới chia tách, sáp nhập, giải thể…

Câu hỏi 19: Trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành hèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Chỉ có chi bộ, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp là cơ quan tài chính cấp ủy mới có thẩm quyền kiểm tra tài chính của Đảng".

Vậy, việc ủy ban kiểm tra lập đoàn kiểm tra có thành viên là cán bộ thanh tra và cán bộ tài chính thuộc cơ quan nhà nước để tiến hành kiểm tra cơ quan tài chính của cấp ủy cùng cấp có sai với quy định của Điều lệ Đảng không?

Trả lời:

Trước hết phải nhận thức đúng đắn rằng đây là cuộc kiểm tra tài chính của Đảng, do ủy ban kiểm tra của cấp ủy chủ trì tiến hành. Do nhiệm vụ và tính chất cuộc kiểm tra, ủy ban kiểm tra khi thành lập đoàn kiểm tra có quyền huy động một số đảng viên là cán bộ chuyên môn về thanh tra, tài chính tham gia đoàn kiểm tra để giúp việc kiểm tra bảo đảm có chất lượng, hiệu quảNhững đảng viên, cán bộ, chuyên viên được huy động phải chấp hành nghiêm chỉnh quy định của đoàn kiểm tra theo đúng nguyên tắc, phương pháp công tác đảng. Việc kết luận đúng sai là do ủy ban kiểm tra (cấp kiểm ra) kết luận. Do vậy trường hợp như câu hỏi nêu và không sai với quy định của Điều lệ Đảng.

Câu hỏi 20: Ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở có thẩm quyền thi hành kỷ luật không?

Trả lời:

Điểm 4.1, Khoản 4 Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở không có thẩm quyền kỷ luật đảng viên nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất đảng uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định".

Câu hỏi 21: Ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở do ban thường vụ huyện ủy chuẩn y, nhưng khi bị kỷ luật cách chức lại do đảng ủy cơ sở quyết định. Như vậy có đúng không?

Trả lời:

Việc chuẩn y danh sách thành viên được bầu cử trong các tổ chức đảng và phân cấp quản lý cán bộ của Đảng thuộc các quy định khác nhau và không đồng nhất. Việc chuẩn y thực hiện theo quy định về bầu cử trong Đảng. Việc kỷ luật đảng viên thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng và Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương và theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị và cấp ủy các cấp.

Quyền chuẩn y và quyền quản lý cán bộ khác nhau, không nhất thiết cấp ủy chuẩn y đồng thời là cấp ủy quản lý đối với các chức danh bầu cử trong Đảng. Do đó, ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở khi có vi phạm đến mức phải kỷ luật cách chức do đảng ủy cơ sở quyết định kỷ luật là đúng quy định về phân cấp quản lý cán bộ và thẩm quyền thi hành kỷ luật của Đảng.

Câu hỏi 22: Kiểm tra tài chính (thu, chi ngân sách) của Đảng ở cơ sở xã, phường, thị trấn và ở chi bộ về thu, nộp và sử dụng đảng phí gồm những nội dung gì?

Trả lời:

Nội dung kiểm tra tài chính (thu, chi ngân sách) của Đảng ở cơ sở xã, phường, thị trấn và ở chi bộ về thu, nộp và sử dụng đảng phí gồm:

- Đối với đảng ủy cơ sở xã, phường, thị trấn:

Kiểm tra việc thu, chi ngân sách (từ ủy ban nhân dân chuyển sang; từ đảng phí và các nguồn thu khác); việc chấp hành các nguyên tắc, chế độ thu, chi, việc chấp hành chế độ kế toán và quyết toán định kỳ.

Việc bảo đảm trợ cấp về tài chính cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở.

Việc chi tiêu, cấp phát sách báo.

Việc mở sổ, ghi chép, lưu trữ chứng từ thu, chi; việc quản lý, sử dụng tài sản được cấp.

Kiểm tra việc thu, nộp, sử dụng đảng phí.

- Đối với chi bộ:

Kiểm tra việc thu, nộp, sử dụng đảng phí của chi bộ.

Kiểm tra việc đảng viên thực hiện đóng đảng phí hằng tháng theo quy định.

Kiểm tra việc thực hiện quyết định miễn đóng đảng phí đối với đảng viên.

Kiểm tra việc trích nộp theo tỷ lệ lên đảng ủy cấp trên và sử dụng đảng phí được giữ lại của chi bộ.

Kiểm tra bàn giao đảng phí ở những chi bộ mới chia tách, sáp nhập, giải thể...

Câu hỏi 23: Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm đối với tập thể ban chấp hành đảng bộ bộ phận và một số đồng chí trong ban chấp hành đảng bộ bộ phận đã hết nhiệm kỳ. Qua kiểm tra, đã phát hiện những dấu hiệu vi phạm trong giai đoạn đó. Hiện nay có hai loại ý kiến:

- Ý kiến thứ nhất: Cho rằng khi đảng bộ bộ phận đã đại hội hết nhiệm kỳ thì việc ra quyết định kiểm tra trên là vô hiệu đối với cả tập thể ban chấp hành đảng bộ bộ phận và các cá nhân đồng chí đảng ủy viên khóa đó.

- Ý kiến thứ hai: Cho rằng chỉ vô hiệu đối với tập thể ban chấp hành đảng bộ bộ phận, còn các đồng chí đảng ủy viên khóa trước vẫn là đảng ủy viên của đảng ủy đảng bộ bộ phận khóa này thì việc kiểm tra đảng viên không vô hiệu.

Ý kiến nào đúng?

Trả lời:

Điểm 2.2, Khoản 2, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Nếu tổ chức đảng sau khi sáp nhập, chia tách hoặc kết thúc hoạt động mới phát hiện có vi phạm thì tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên của tổ chức đảng đó xem xét, xử lý".

Điểm 4, Mục III Thông báo kết luận số 105- TB/UBKTTW ngày 15-5-2007 của Ủy ban Kiểm ra Trung ương đã nêu: "Trường hợp tổ chức đảng hết nhiệm kỳ mới phát hiện vi phạm chưa được xem xét, kết luận thì tổ chức đảng cấp trên trực tiếp tiến hành xem xét, kết luận theo đúng quy trình kiểm tra đối với tổ chức đảng. Tổ chức đảng kế thừa nhiệm vụ của tổ chức hết nhiệm kỳ trước đó làm báo cáo kiểm điểm. Khi tiến hành họp kiểm điểm cấp uỷ hay kiểm điểm ban thường vụ thì tổ chức đảng tiến hành kiểm tra mời những thành viên của tổ chức đã hết nhiệm kỳ của cấp uỷ hay ban thường vụ về dự họp để nghe kiểm điểm và trình bày ý kiến, nhưng không được biểu quyết, hoặc bỏ phiếu đề nghị hình thức kỷ luật vì các đồng chí về dự không còn là thành viên của cấp uỷ khóa hiện tại".

Như vậy, theo các quy định trên thì việc ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở quyết định kiểm tra ban chấp hành đảng bộ bộ phận và một số đồng chí trong đảng ủy đảng bộ là thực hiện đúng quy định. Đảng ủy đã hết nhiệm kỳ mới phát hiện có vi phạm vẫn phải tiến hành kiểm tra xem xét, kết luận. Nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, thì căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân vi phạm mà áp dụng hình thức kỷ luật đối với tập thể, cá nhân có liên quan và ghi lý lịch từng thành viên của đảng ủy đảng bộ bộ phận đã hết nhiệm kỳ. Do đó, cả hai ý kiến trên đều chưa đúng.

Câu hỏi 24: Ủy ban kiểm tra đảng ủy xã A kiểm tra tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm đối với chi ủy thôn B. Việc kiểm tra đó có đúng đối tượng không? Quy định cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp là nói cấp ủy các cấp hay chỉ là cấp ủy cấp trên cơ sởtrở lên?

Trả lời:

Điểm 1.1.2, Khoản 1, Điều 30 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đối tượng kiểm tra giám sát: Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở, cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, thường trực cấp uỷ từ cấp trên cơ sở trở lên; uỷ ban kiểm tra; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ; ban cán sự đảng, đảng đoàn; đảng viên".

Theo Hướng dẫn trên thì chi ủy không phải là đối tượng kiểm tra. Tuy nhiên, có một số nơi đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với chi ủy, có nơi kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với chi bộ, thì tổ chức đảng có thẩm quyền đã kết hợp kiểm tra cá nhân các đồng chí trong ban chi ủy (đối với chi bộ có chi ủy), hoặc bí thư, phó bí thư chi bộ và đảng viên trong chi bộ có liên quan đến nội dung kiểm tra để việc kiểm tra đạt kết quả tốt.

Cũng theo Hướng dẫn trên thì quy định "Cấp uỷ, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp uỷ từ cấp trên cơ sở trở lên" không bao gồm chi ủy, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở. Vì khi kể tên các đối tượng kiểm tra, giám sát hướng dẫn đã liệt kê đúng tên đối tượng kiểm tra là"chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở" nên các đối tượng liệt kê sau đó không bao gồm chi ủy, đảng ủy bộ phận và đảng ủy cơ sở, mà muốn xác định từ cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên.

Câu hỏi 25: Khi đồng chí C hết thời gian là đảng viên dự bị, do có vi phạm nên chi bộ ra nghị quyết đề nghị xoá tên trong danh sách đảng viên. Từ khi chi bộ đề nghị (tháng 6-2010) đến khi ban thường vụ huyện uỷ quyết định là một năm và một năm sau đảng viên C mới nhận được quyết định.

Vậy quyết định đó còn có hiệu lực thi hành nữa không?

Trả lời:

Về nguyên tắc, quyết định của ban thường vụ huyện uỷ về việc xoá tên trong danh sách đảng viên đối với đồng chí C có hiệu lực thi hành cho dù có thời gian như đã nêu trong câu hỏi là dài, làm cho đồng chí đó băn khoăn. Tuy nhiên, đây là một hiện tượng không bình thường trong sinh hoạt nội bộ Đảng phải xem xét, xử lý.

Ban thường vụ huyện uỷ, chi bộ và đảng uỷ (nếu có) phải nghiêm túc kiểm tra lại sự việc, làm rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân có liên quan trong từng khâu của quá trình xem xét, xử lý nghị quyết đề nghị của chi bộ về việc xoá tên của đồng chí C trong danh sách đảng viên để rút kinh nghiệm.

Nguồn: http://dangcongsan.vn/