Phần thứ ba: Thi hành kỷ luật trong Đảng
18:56:12 10/12/2014

Phần thứ ba

THI HÀNH KỶ LUẬT TRONG ĐẢNG

Câu hỏi 26: Những tổ chức đảng nào có thẩm quyền thi hành kỷ luật trong Đảng?

Trả lời:

Theo quy định của Điều 36, Điều lệ Đảng hóa XI, chỉ có các tổ chức đảng sau đây mới có thẩm quyền thi hành kỷ luật:

1-  Chi bộ.

2- Ban chấp hành đảng bộ các cấp (trừ đảng ủy bộ phận) và ban thường vụ của ban chấp hành đảng bộ tử cấp huyện quận và tương đương trở lên.

3- Ủy ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên.

4- Các tổ chức đảng được Trung ương ủy quyền.

Ngoài các tổ chức đảng trên đây, các tổ chức đảng khác (ban cán sự đảng, đảng đoàn, các ban của cấp ủy...) không có thẩm quyền thi hành kỷ luật mà chỉ có quyền báo cáo và kiến nghị với cấp ủy có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên và tổ chức đảng hoạt động trong lĩnh vực mình phụ trách.

Đảng ủy bộ phận và ban thường vụ đảng ủy cơ sở không được quyền thi hành kỷ luật đảng viên nhưng có trách nhiệm thẩm tra việc đề nghị thi hành kỷ luật của chi bộ. Ban thường vụ đảng ủy cơ sở có trách nhiệm thẩm tra đề nghị của ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở để đề nghị đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định kỷ luật theo thẩm quyền.

Câu hỏi 27: Thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ và các cấp ủy đối với đảng viên hiện nay được Điều lệ Đảng quy định như thế nào?

Trả lời:

Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ và các cấp ủy đối với đảng viên như sau:

- Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).

- Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

- Cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp vi phạm nhiệm vụ do cấp uỷ giao.

- Ban thường vụ cấp uỷ quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm nhiệm vụ chuyên môn được giao.

- Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Bộ Chính trị.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, khiển trách, cảnh cáo Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

- Cấp uỷ cấp trên có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật do cấp dưới quyết định.

Câu hỏi 28: Việc thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức và khai trừ đối với chi ủy viên, Điều lệ Đảng khóa XI có những gì bổ sung, sửa đổi?

Trả lời:

- Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Việc cách chức, khai trừ cấp uỷ viên của chi bộ cơ sở do chi bộ cơ sở đề nghị, ban thường vụ cấp uỷ huyện, quận hoặc tương đương quyết định. Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới".

- Như vậy theo quy định trên đối với thẩm quyền thi hành kỷ luật của cấp ủy cấp trên của chi bộ trong Điều lệ Đảng khóa XI bằng hình thức cách chức,  khai trừ đối với chi ủy viên thì không có sửa đổi, bổ sung. Cụ thể: Cách chức chi ủy viên do cấp ủy cấp trên trực tiếp của chi bộ (trừ đảng ủy bộ phận) quyết định; khai trừ chi ủy viên do huyện ủy, quận ủy và cấp ủy tương đương quyết định.

Câu hỏi 29: Theo Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương thì thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên của đảng ủy cơ sở thấp hơn thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ trong trường hợp thi hành kỷ luật các đối tượng vi phạm là cấp uỷ viên và cán bộ do cấp uỷ cấp trên quản lý, vì sao?

Trả lời:

- Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về thẩm quyền kỷ luật của chi bộ và đảng ủy cơ sở như sau:

"Chi bộ quyết định khiển, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) viphạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao)...

- Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên của chi bộ hoặc đảng uỷ bộ phận trực thuộc nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

Đối với cấp uỷ viên cấp trên trực tiếp trở lên và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý sinh hoạt tại đảng bộ, nếu vi phạm đến mức phải kỷ luật thì đảng uỷ cơ sở đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định".

- Trong các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc vừa qua, ở mức độ khác nhau, Đại hội đã quyết định tăng cường, nâng cao vai trò, vị trí của chi bộ, nơi trực tiếp quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên về nhiều mặt, trong đó có việc bổ sung, sửa đổi quy định về thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ.

Quy định cụ thể về thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ (chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ bộ phận) như trên nhằm tạo điều kiện, tăng cường; nâng cao vai trò của chi bộ để đề cao sự quản lý, giáo dục đảng viên, trước hết là từ chi bộ. Do đó, thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên là cấp uỷ viên các cấp, cán bộ do cấp uỷ các cấp quản lý khác và đặc biệt hơn so với thẩm quyền thi hành kỷ luật của đảng ủy cơ sở (đối với đối tượng này và trong phạm vi nội dung vi phạm được quy định).

- Như vậy, đây là một quy định riêng thẩm quyền thi hành kỷ luật đặc biệt cho chi bộ được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng quyết định với mục đích, ý nghĩa như nêu ở trên. Còn đảng ủy cơ sở, đảng ủy cấp trên cơ sở không có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với các cấp uỷ cấp trên vi phạm các nội dung thuộc thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ và không được ghi trong Khoản 1, Điều 36 Điều lệ Đảng. Giới hạn thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ là:

Chỉ được quyết định hai hình thức là khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên sinh hoạt trong chi bộ.

Đảng viên vi phạm mà chi bộ có quyền thi hành hai hình thức kỷ luật nói trên là đối với mọi đảng viên (cấp uỷ viên cấp trên cho đến ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ do cấp uỷ cấp trên quản lý) nhưng chỉ trong phạm vi đảng viên có vi phạm về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên nói chung và sự phân công cụ thể của chi bộ thì chi bộ xem xét, quyết định bằng một trong hai hình thức khiển trách, cảnh cáo.

Nếu cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao hoặc phải áp dụng hình thức kỷ luật cao hơn thì chi bộ phai báo cáo cho tổ chức đảng quản lý đảng viên đó xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

Khi thực hiện thẩm quyền thi hành kỷ luật, nếu được quyền trực tiếp quyết định kỷ luật thì quyết định có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết kỷ luật. Việc báo cáo lên cấp trên là vấn đề có tính nguyên tắc, không phải để cấp trên quyết định.

Câu hỏi 30: Thủ tục thi hành kỷ luật trong Đảng gồm những vấn đề gì?

Trả lời:

Thủ tục thi hành kỷ luật trong Đảng gồm những quy định chủ yếu sau đây:

1- Đảng viên vi phạm phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét, xử lý kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét, xử lý kỷ luật.

2- Tổ chức đảng vi phạm phải kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật và báo cáo lên cấp ủy cấp trên quyết định.

3- Trước khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền nghe đảng viên vi phạm hoặc đại diện tổ chức đảng vi phạm trình bày ý kiến.

4- Quyết định của cấp dưới về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải báo cáo lên cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp; nếu đảng viên vi phạm tham gia nhiều cơ quan lãnh đạo của Đảng thì phải báo cáo đến các cơ quan lãnh đạo cấp trên mà đảng viên đó là thành viên.

5- Quyết định của cấp trên về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải được thông báo đến cấp dưới, nơi có tổ chức đảng và đảng viên vi phạm. Trường hợp cần thông báo rộng hơn thì do cấp ủy có thẩm quyền quyết định. Quyết định kỷ luật của ủy ban kiểm tra cấp trên đối với đảng viên vi phạm, nếu cần thông báo rộng hơn thì do ủy ban kiểm tra cấp trên quyết định.

6- Kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm có hiệu lực ngay sau khi công bố quyết định.

7- Việc biểu quyết kỷ luật phải thực hiện bằng phiếu kín.

8- Đảng viên giữ nhiều chức vụ bị kỷ luật cách chức, thì tùy nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm mà cách một hay nhiều chức vụ.

9- Đảng viên bị hình phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền phải quyết định khai trừ ra khỏi Đảng.

10- Đảng viên bị kỷ luật cách chức, trong vòng một năm, kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp ủy, không được bổ nhiệ vào các chức vụ tương đương và cao hơn.

11- Đề nghị của tổ chức đảng cấp dưới về kỷ luật cách chức, khai trừ đảng viên, giải tán tổ chức đảng khi chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên quyết định và công bố thì đảng viên đó vẫn được sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng đó vẫn được hoạt động.

Câu hỏi 31: Kỷ luật đảng có áp dụng đồng thời với hình thức kỷ luật hành chính và đoàn thể không?

Trả lời:

Điểm 1.3, Khoản 1, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại. Cấp uỷ quản lý đảng viên sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng phải chỉ đạo các tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính hoặc đoàn thể được kịp thời. Trường hợp không thuộc thẩm quyền phải kiến nghị với tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, xử lý".

- Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nội dung kỷ luật của Đảng bao gồm ba bộ phận sau:

Kỷ luật nội bộ Đảng (các vấn đề liên quan đến Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng được thể hiện qua nghị quyết, chỉ thị của Đảng).

Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước (là thể chế hoá quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng).

Kỷ luật của các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội (hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng).

Do đó, nếu đảng viên vi phạm Hiến pháp, pháp luật và vi phạm kỷ luật của các tổ chức chính trị - xã hội mà mình tham gia đều là vi phạm kỷ luật của Đảng. Mặt khác, pháp luật, kỷ luật hành chính hay kỷ luật của các tổ chức chính trị xã hội đều có quy định riêng (luật, điều lệ, quy định) để xử lý các thành viên của xã hội hay tổ chức mình khi vi phạm.

- Căn cứ vào Hướng dẫn trên thì hình thức kỷ luật đảng không áp dụng đối với hình thức kỷ luật chuyên môn, hành chính và kỷ luật của các đoàn thể chính trị - xã hội. Tuy nhiên, việc xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm phải được tiến hành đồng bộ giữa kỷ luật về Đảng với kỷ luật về chính quyền và đoàn thể. Nếu đảng viên vi phạm kỷ luật đảng thì phải xem xét, xử lý cả kỷ luật về hành chính và kỷ luật của tổ chức chính trị xã hội mà đảng viên đó là thành viên.

Câu hỏi 32: Những năm trước đây, việc thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm đều được ghi hình thức kỷ luật vào lý lịch đảng viên, gần đây có ý kiến của cán bộ quản lý đảng viên cho rằng: "Việc ghi hình thức kỷ luật đối với đảng viên bị kỷ luật vào lý lịch đảng viên không còn được thực hiện".

Ý kiến đó đúng hay sai?

Trả lời:

Trong hướng dẫn kê khai hồ sơ lý lịch đảng viên từ trước đến nay của tổ chức đảng, các mẫu khai lý lịch, sơ yếu lý lịch đều có mục khen thưởng và kỷ luật. Mọi đảng viên được khen thưởng hoặc bị kỷ luật đều phải kê khai đầy đủ, kể cả những trường hợp khi tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật thì tất cả các thành viên trong tổ chức đó đều phải ghi vào lý lịch của mình hình thức kỷ luật cùng với tổ chức đó (trừ những thành viên không liên quan đến vi phạm đó).

Đây là những quy định có tính nguyên tắc bắt buộc mọi đảng viên và tổ chức đảng quản lý đảng viên phải thực hiện, giúp cho tổ chức đảng quản lý đảng viên nắm chắc tình hình đảng viên, có biện pháp quản lý, giáo dục đảng viên Đến nay, chưa có bất kỳ văn bản nào bãi bỏ việc này.

Việc ghi hình thức kỷ luật vào lý lịch đảng viên là trách nhiệm của tổ chức đảng, do thường trực cấp uỷ trực tiếp chỉ đạo thực hiện. Đảng viên bị kỷ luật phải tự giác thực hiện việc ghi đầy đủ hình thức kỷ luật khi kê khai hồ sơ lý lịch hoặc bổ sung lý lịch đảng viên hàng năm. Vì vậy nếu có ý kiến như câu hỏi nêu là sai, cần phải báo cáo với thường trực cấp uỷ để chấn chỉnh, thực hiện cho đúng.

Câu hỏi 33: Đảng viên dự bị vi phạm kỷ luật vào thời gian cuối của thời kỳ dự bị thì có thi hành kỷ luật không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điểm 2.3, Khoản 2, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương thì: "Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xoá tên trong danh sách đảng viên, không kỷ luật khai trừ".

Như vậy theo quy định trên, đảng viên dự bị vi phạm kỷ luật vào thời gian cuối của thời kỳ dự bị nếu đến mức phải kỷ luật thì vẫn xem xét, xử lý kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo để bảo đảm nghiêm minh của kỷ luật đảng; khi hết thời gian dự bị, chi bộ vẫn xem xét, công nhận đảng viên chính thức đối với đảng viên vi phạm đó, nếu thấy có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.

Câu hỏi 34: Đại biểu đại hội đảng bộ bị thi hành kỷ luật bằng những hình thức khiển trách, cảnh cáo, tính đến ngày khai mạc đại hội chưa quá một năm thì có được tham dự đại hội đại biểu đảng bộ không? Có được ứng cử vào ban chấp hành đảng bộ không?

Trả lời:

Theo quy định hiện hành của Đảng, trường hợp đại biểu bị kỷ luật khiển trách cảnh cáo không thuộc diện "không triệu tập đến dự đại hội" mà thuộc diện phải "xem xét tư cách đại biểu". Sau khi xem xét, nếu thấy cần phải cho rút thì cho tiến hành các thủ tục cần thiết, kể cả kiến nghị ban thẩm tra tư cách đại biểu trình đại hội xem xét quyết định. Tuy nhiên, không phải tất cả các đại biểu không thuộc diện phải "xem xét tư cách đại biểu" đều bị bác tư cách đại biểu, mà chỉ là những trường hợp cụ thể thấy cần thiết xem xét như: Bị cách chức tính đến ngày đại hội chưa đến một năm, những đại biểu bị bác tư cách đại biểu đại hội cấp dưới, đại biểu đương nhiên bị kỷ luật cách chức cấp uỷ viên...

Trường hợp như câu hỏi nêu, nếu đủ tư cách là đại biểu dự đại hội được triệu tập và đại hội quyết định công nhận đủ tư cách (qua biểu quyết báo cáo của ban thẩm tra tư cách đại biểu) là có quyền ứng cử, đề cử, bầu cử đại biểu đi dự đại hội cấp trên. Theo quy chế bầu cử trong Đảng thì đảng viên chính thức đều có quyền ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của Đảng ở các cấp dù đảng viên có là đại biểu hay không là đại biểu dự đại hội.

Câu hỏi 35: Kỷ luật của Đảng gồm có những hình thức nào? Đảng viên dự bị vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng có kỷ luật bằng hình thức khai trừ không? Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng có áp dụng biện pháp xoá tên được không?

Trả lời:

- Khoản 2, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"2.1- Đối với tổ chức đảng: khiển trách, cảnh cáo, giải tán.

2. 2- Đối với đảng viên chính thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ.

Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải kỷ luật khai trừ, không áp dụng biện pháp xoá tên, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng. Cấp uỷ viên vi phạm đến mức cách chức thì phải cách chức, không để thôi giữ chức.

2.3- Đối với đảng viên dự bị: khiển trách, cảnh cáo.

Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải  kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xoá tên trong danh sách đảng viên, không kỷ luật khai trừ".

Như vậy, theo quy định trên thì đảng viên dự bị vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì không kỷ luật bằng hình thức khai trừ mà chỉ xóa tên trong danh sách đảng viên. Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng thì phải căn cứ vào tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để quyết định hình thức kỷ luật thích hợp, không áp dụng hình thức xóa tên trong danh sách đảng viên.

Câu hỏi 36: Điều lệ Đảng quy định hình thức kỷ luật đối với đảng viên chính thức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ. Việc ghi thêm vào phiếu biểu quyết thi hành kỷ luật đảng viên mục: Kiểm điểm rút kinh nghiệm hoặc ý kiến khác để đảng viên tỏ rõ chính kiến của mình là đúng hay sai so với quy định của Điều lệ Đảng?

Trả lời:

- Khoản 2, Điều 35, Điều lệ Đảng khoá XI quy định về hình thức kỷ luật như sau:

2.1- Đối với tổ chức đảng: khiển trách, cảnh cáo, giải tán.

2.2- Đối với đảng viên chính thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ...

2. 3- Đối với đảng viên dự bị: khiển trách, cảnh cáo.

- Sách tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng do Ủy ban Kiểm tra Trung ương ban hành năm 2012 về mẫu phiếu biểu quyết quyết định (hoặc đề nghị) thi hành kỷ luật cũng chỉ quy định cụ thể các ô về hình thức kỷ luật cụ thể đối với đảng viên chính thức. Việc ghi thêm vào phiếu kỷ luật mục kiểm điểm rút kinh nghiệm hoặc ý kiến khác vào phiếu kỷ luật là không đúng vì đó không phải là hình thức kỷ luật.

Câu hỏi 37: Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đối bởi cấp uỷ viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ, từ cấp uỷ viên đảng uỷ cơ sở cho đến Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, nếu vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao (nhiệm vụ do cấp uỷ giao hoặc nhiệm vụ chuyên môn được giao) phải áp dụng hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên thì chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét quyết định".

Vậy cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý được hiểu như thế nào? Chi bộ có quyền khiển trách, cảnh cáo bí thư chi bộ, chi uỷ viên, bí thư đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ viên đảng bộ bộ phận sinh hoạt tại chi bộ không?

Trả lời:

Ngày 4-7-2007, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 67- QĐ/TW Quy định về phân cấp quản lý cán bộ và Điều 14 của Quy định này nêu rõ:"Căn cứ vào các quy định trên đây, các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương quy định có thể việc phân cấp quản lý cán bộ trong phạm vi phụ trách". Như vậy, mỗi cấp ủy đều có trách nhiệm cụ thể hoá về phân cấp quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp với địa phương, đơn vị.

Khoản 1, Điều 36 Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sông, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).

Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý".

Theo quy định trên, chi bộ có quyền khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).

Trường hợp cấp ủy viên của cấp ủy cơ sở trở lên vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao hoặc nhiệm vụ chuyên môn được giao đến mức phải xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo thì do cấp ủy mà đảng viên đó là thành viên hoặc ủy ban kiểm tra của cấp ủy cấp trên có thẩm quyền quyết định.

Trường hợp cán bộ thuộc diện cấp ủy các cấp quản lý (theo phân cấp quản lý của cấp ủy có thẩm quyền), vi phạm nhiệm vụ cấp trên giao đến mức phải xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo hoặc phải xử lý kỷ luật bằng hình thức cao hơn (cách chức, khai trừ) thì chi bộ đề nghị lên cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra của cấp ủy quản lý cán bộ đó quyết định.

Trường hợp bí thư chi bộ, chi ủy viên, nếu trong phân cấp do đảng ủy cơ sở quản lý vi phạm nhiệm vụ cấp trên giao hoặc nhiệm vụ chuyên môn được giao đến mức phải xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo thì đảng ủy cơ sở quyết định.

Câu hỏi 38: Đảng viên X có vi phạm, chi bộ cơ sở thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo sau khi báo cáo lên cấp trên, ban thường vụ huyện ủy xem xét thấy việc xử lý kỷ luật của chi bộ chưa tương xứng với lỗi vi phạm và quyết định khai trừ ra khỏi Đảng.

Vậy, ban thường vụ huyện ủy xử lý kỷ luật như trên có đúng thẩm quyền không? Trước khi ra quyết định kỷ luật khai trừ đảng viên X ra khỏi Đảng thì có phải ra quyết định hủy bỏ quyết định kỷ luật cảnh cáo của chi bộ đối với đồng chí X không?

Trả lời:

Khoản 2, Điều 36 Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Ban thường vụ cấp uỷ quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; quyết định khiển trách,cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm nhiệm vụ chuyên môn được giao".

Khoản 5, Điều 36 Điều lệ Đảng khoá XI nêu rõ: "Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp trên có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật do cấp dưới quyết định".

Khoản 2, Điều 38 Điều lệ Đảng hóa XI quy định: "Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó".

Khoản 2, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Trường hợp vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật nhưng tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp quyết định xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, không phải làm thủ tục từ dưới lên.

Đối với tổ chức đảng có trách nhiệm xem xét, xử lý nhưng không xử lý hoặc xử lý không đúng mức tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì phải xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó và nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải xử lý đúng mức".

- Như vậy, theo các quy định trên và nội dung câu hỏi nêu thì tổ chức đảng cấp trên sau khi xem xét, thấy hình thức kỷ luật cảnh cáo của chi bộ đối với đảng viên X là chưa tương xứng với lỗi vi phạm, ban thường vụ huyện ủy quyết định tăng hình thức kỷ luật từ cảnh cáo lên khai trừ đối với đồng chí X là đúng thẩm quyền theo quy định của Điều lệ Đảng. Khi quyết định kỷ luật khai trừ đối với đồng chí X, ban thường vụ huyện ủy cần nêu rõ lý do tăng hình thức kỷ luật và trong quyết định cần có điều khoản nêu rõ việc hủy bỏ quyết định và hình thức kỷ luật của chi bộ.

Câu hỏi 39: Một đảng viên vi phạm, chi bộ đề nghị khai trừ, ủy ban kiểm tra quận ủy xem xét và ra quyết định cảnh cáo. Quyết định này bí thư chi bộ giữ lại, không phổ biến cho đảng viên và chi bộ chấp hành vì không nhất trí với quyết định của ủy ban kiểm tra quận ủy.

Sau đó, bí thư chi bộ đề nghị ban thường vụ quận ủy xem xét và ban thường vụ quận  ủy ra quyết định hủy quyết định kỷ luật của ủy ban kiểm ra quận ủy và nâng hình thức kỷ luật là khai trừ. Việc làm đó có sai thẩm quyền và nguyên tắc không?

Trả lời:

Theo nguyên tắc tổ chức của Đảng thì đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên. Uỷ ban kiểm tra quận ủy là tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên của chi bộ trong việc quyết định kỷ luật đối với đảng viên. Bí thư chi bộ vì không nhất trí với quyết định kỷ luật đối với đảng viên của ủy ban kiểm tra quận ủy nên không phổ biến cho đảng viên và chi bộ chấp hành là vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng, cần phải được xem xét làm rõ trách nhiệm của bí thư chi bộ.

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI thì ban thường vụ quận ủy có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật do ủy ban kiểm tra quận ủy quyết định. Trong trường hợp này, trước khi quyết định thay đổi hình thức kỷ luật, ban thường vụ quận ủy cần thẩm tra, xác minh, nghe ủy ban kiểm tra quận ủy trình bày về nội dung tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân của vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, nghe đảng viên vi phạm trình bày ý kiến, nếu ban thường vụ chỉ nghe ý kiến của bí thư chi bộ mà quyết định thì vừa không đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục vừa dễ dẫn đến sai sót.

Câu hỏi 40: Đảng viên A là cán bộ xã (phụ trách thủy lợi) đã nghỉ hưu. Trong thời gian công tác, có vi phạm làm thất thoát kinh phí xây dựng thủy lợi (có kết luận của cơ quan có thẩm quyền).

Chi bộ đã tiến hành xem xét kỷ luật đồng chí A theo quy trình, kết quả bỏ phiếu có 21/23 đảng viên trong chi bộ đồng ý đề nghị kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí A và báo cáo lên đảng ủy xã. Sau khi xem xét, đảng ủy xã thấy đồng chí A có vi phạm kỷ luật đảng và phải thi hành kỷ luật, nhưng chưa đến mức khai trừ ra khỏi Đảng, nên giao cho chi bộ xem xét lại. Song chi bộ chưa có điều kiện xem xét lại (vì nhiều lý do, trong đó có lý do đồng chí A vắng mặt vì đi làm ăn xa). Vì vậy, việc kỷ luật đồng chí A bị kéo dài từ năm 2010 đến nay.

Nay chi bộ yêu cầu tiếp tục xem xét kỷ luật đối với đồng chí A (vì chưa xử lý). Vậy cần giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 35, Điều lệ Đảng khóa X và Điều lệ Đảng khóa XI đều quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời".

Trong trường hợp này, đồng chí A vẫn còn là đảng viên, đang đi làm ăn xa, chi bộ phải mời về để kiểm điểm, xem xét, xử lý kỷ luật. Nếu đảng viên A không về mà không có lý do chính đáng thì chi bộ vẫn xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền.

Nếu chi bộ không xem xét, xử lý kỷ luật đồng chí A thì đảng ủy xã xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền và xem xét trách nhiệm của chi bộ và đồng chí bí thư chi bộ. Căn cứ vào kết quả biểu quyết đề nghị thi hành kỷ luật của chi bộ đội với đảng viên A, đảng ủy xã trực tiếp xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, không phải làm thủ tục từ dưới lên, kể cả trường hợp cần thay đổi hình thức kỷ luật. Nếu vi phạm của đồng chí A chỉ đến mức khiển trách, cảnh cáo thì đảng ủy xã quyết định. Nếu phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ thì đảng ủy xã quyết định (nếu được ủy quyền) hoặc biểu quyết đề nghị ủy ban kiểm tra huyện ủy xem xét quyết định kỷ luật đồng chí A theo thẩm quyền.

Như vậy, ở vụ việc trên, cả đảng ủy xã và chi bộ đã không nghiêm túc trong việc chấp hành Điều lệ Đảng.

Câu hỏi 41: Đồng chí A là đảng ủy viên đảng ủy cơ sở kiêm bí thư chi bộ có vi phạm kỷ luật đến mức phải thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức chi ủy viên. Đảng ủy cơ sở có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật không? Nếu không, phải giải quyết như thế nào? Nếu có vi phạm đến mức cách chức đảng ủy viên thì cấp nào quyết định?

Trả lời:

- Khoản 1, Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định về thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm như sau: "Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới".

Khoản 2, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng hóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp vi phạm nhiệm vụ do cấp uỷ giao".

- Như vậy, theo các quy định trên thì đảng ủy cơ sở có quyền quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên của chi bộ và đảng bộ bộ phận, nhưng không phải cấp ủy viên cùng cấp hoặc cán bộ diện cấp ủy cấp trên quản lý.

Nếu bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên của chi bộ và đảng bộ bộ phận là cấp ủy viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý có vi phạm phải áp dụng hình thức kỷ luật cách chức thì đảng ủy cơ sở đề nghị cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.

- Trường hợp đảng viên tham gia nhiều cấp ủy vi phạm đến mức phải cách chức cấp ủy cấp cao nhất hoặc khai trừ thì ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp của cấp ủy cao nhất mà đảng viên đó là thành viên quyết định. Nếu phải cách chức cấp ủy viên một cấp dưới do ban thường vụ của cấp ủy quản lý đảng viên đó quyết định. Nhưng vì ban thường vụ đảng ủy cơ sở không có thẩm quyền thi hành kỷ luật nên quy định trên chỉ áp dụng cho đảng viên giữ nhiều chức vụ, tham gia nhiều cấp ủy thuộc diện cấp ủy huyện, quận hoặc tương đương sở lên quản lý.

- Trường hợp đồng chí A là bí thư chi bộ, đảng ủy viên đảng ủy cơ sở vi phạm kỷ luật đến mức phải thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức chi ủy viên. Đảng ủy cơ sở không có thẩm quyền quyết định cách chức chi ủy viên của đồng chí A vì đồng chí A là bí thư chi bộ nhưng lại là đảng ủy viên đảng ủy cơ sở (cấp ủy viên cùng cấp). Vì vậy, đảng ủy cơ sở phải đề nghị ban thường vụ quận huyện ủy hoặc tương đương xem xét, quyết định.

Câu hỏi 42: Đồng chí X là đảng viên không giữ chức vụ, có dấu hiệu vi phạm kỷ luật đảng, chi bộ tiến hành kiểm tra, kết luận có vi phạm và biểu quyết quyết định đề nghị xử lý kỷ luật, kết quả: Hơn 1/2 tổng số đảng viên trong chi bộ đồng ý thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo. Chi bộ báo cáo lên đảng uỷ xã. Đảng ủy xã đã họp xét và quyết định kỷ luật khai trừ đồng chí X ra khỏi Đảng.

Việc làm trên của chi bộ có đúng quy định không? Nếu sau khi bỏ phiếu, chi bộ quyết định thi hành kỷ luật đồng chí X bằng hình thức cảnh cáo có được không? Trường hợp đồng chí X vi phạm đến mức phải khai trừ ra khỏi Đảng, nhưng kết quả bỏ phiếu như trên thì phải tiến hành như thế nào?

Trả lời:

- Khoản 1, Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định về thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên như sau:

"Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp uỷ giao).

Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý".

Khoản 1, Điều 38, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm không thuộc thẩm quyền quyết định kỷ luật của cấp mình thì đề nghị lên cấp có thẩm quyền quyết định".

Điểm 3.1 và Điểm 3.2, Khoản 3, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỳ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng hóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"3.1- Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên, khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên hoặc thành viên của tổ chức đảng đó.

3.2- Trường hợp khai trừ đảng viên, giải tán tổ chức đảng phải được sự đồng ý của ít nhất hai phần ba số đảng viên hoặc thành viên của tổ chức đảng cấp dưới đề nghị và được sự đồng ý của trên một nửa số thành viên của tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định.

Nếu đảng viên vi phạm đến mức phải khai trừ hoặc tổ chức đảng vi phạm đến mức phải giải tán nhưng chưa đủ hai phần ba số đảng viên của chi bộ hoặc thành viên của tổ chức đảng cấp dưới biểu quyết đề nghị thì chuyển hồ sơ để tổ chức đảng cấp dưới biểu quyết đề nghị thì chuyển hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Một nửa hay hai phần ba quy định ở trên được tính trên tổng số thành viên có quyền biểu quyết của tổ chức đảng (ở chi bộ là số đảng viên chính thức, trừ số đảng viên được miễn sinh hoạt không có mặt tại cuộc họp; ở cấp uỷ là tổng số cấp uỷ viên), không tính trên số thành viên có mặt trong cuộc họp".

- Như vậy, theo quy định trên, tổ chức đảng có thẩm quyền khi xem xét, xử lý kỷ luật tổ chức đảng hoặc đảng viên vi phạm phải quyết định theo đúng thẩm quyền, nếu không thuộc thẩm quyền thì đề nghị tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Trong trường hợp đồng chí X có dấu hiệu vi phạm kỷ luật đảng chi bộ xem xét, kết luận và tiến hành các thủ tục thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo là đúng thẩm quyền. Song chi bộ lại không thực hiện thẩm quyền thi hành kỷ luật của mình mà báo cáo, đề nghị lên đảng ủy cấp trên thi hành kỷ luật là không đúng quy định của Điều lệ Đảng. Để làm đúng quy trình, sau khi bỏ phiếu kỷ luật, có trên 1/2 đảng viên sinh hoạt trong chi bộ tán thành thi hành kỷ luật đồng chí X bằng hình thức cảnh cáo, thì đó là quyết định thi hành kỷ luật của chi bộ đối với đồng chí X và quyết định đó của chi bộ có hiệu lực ngay, sau đó chi bộ mới báo cáo lên đảng ủy xã theo quy định.

- Khoản 2, Điều 38 trong Hướng dẫn trên quy định: "Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó".

- Nếu sau khi đảng viên X bị chi bộ quyết định thi hành kỷ luật, tổ chức đảng cấp trên (đảng ủy, ủy ban kiểm tra của đảng ủy xã) qua kiểm tra thi hành kỷ luật, giải quyết khiếu nại hoặc qua nắm tình hình phát hiện thấy việc xử lý kỷ luật của chi bộ là chưa đúng mức thì đảng ủy xã thực hiện thẩm quyền theo quy định để xử lý kỷ luật đảng viên X đúng mức và xem xét, xử lý trách nhiệm của chi bộ.

Trường hợp đồng chí X vi phạm đến mức phải khai trừ ra khỏi Đảng nhưng kết quả bỏ phiếu như trên thì chi bộ vẫn phải chuyển toàn bộ hồ sơ lên tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên xem xét, xử lý theo thẩm quyền nêu tại Điểm 3 2, Khoản 3 Điều 38 trong Hướng dẫn trên.

Câu hỏi 43: Chi bộ có ba đảng viên lâu nay không tham gia sinh hoạt chi bộ, trong số đó có hai đảng viên đã chuyển công tác khỏi cơ quan đã hơn hai năm, còn một đảng viên khác hơn một năm không tham gia sinh hoạt chi bộ.

Năm vừa qua, các đảng viên đó không những không bị xem xét kỷ luật mà còn được chi bộ phân loại công nhận là đảng viên hoàn thành nhiệm vụ như những đảng viên đang công tác và sinh hoạt thường xuyên tại đơn vị. Việc làm đó đúng hay sai? Nếu sai thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

- Khoản 4, Điều 2, Điều lệ Đảng khoá XI quy định đảng viên có nhiệm vụ: "Tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách về tổ chức của Đảng; phục tùng kỷ luật, giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng; thường xuyên tự phê bình và phê bình, trung thực với Đảng; làm công tác phát triển đảng viên; sinh hoạt đảng và đóng đảng phí đúng quy định".

Khoản 1, Điều 8, Điều lệ Đảng khoá XI quy định: "Đảng viên bỏ sinh hoạt chi bộ hoặc không đóng đảng phí ba tháng trong năm mà không có lý do chính đáng; đảng viên giảm sút ý chí phấn đấu, không làm nhiệm vụ đảng viên, đã được chi bộ giáo dục mà không tiến bộ thì chi bộ xem xét, đề nghị lên cấp có thẩm quyền xoá tên trong danh sách đảng viên".

Tiết a, Điểm 9.3.1, Khoản 9.3, Điều 6, Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên được cấp có thẩm quyền quyết định chuyển công tác sang một đơn vị mới, được nghỉ hưu, nghỉ mất sức, thôi việc, phục viên hoặc thay đổi nơi ở mới lâu dài thì phải làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng chính thức".

- Trường hợp hai đảng viên đã chuyển công tác nhưng không chuyển sinh hoạt về tổ chức đảng mới là vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng. Một đảng viên còn lại bỏ sinh hoạt một năm là vi phạm kỷ luật đảng. Căn cứ vào các quy định trên, các đảng viên này phải được xem xét, xử lý bằng hình thức thích hợp tùy theo nội dung, tích chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ.

- Chi bộ phân loại ba đảng viên này hoàn thành nhiệm vụ là vi phạm nghiêm trọng các quy định của Đảng, buông lỏng quản lý, bao che cho đảng viên vi phạm, cần phải xem xét trách nhiệm và xử lý nghiêm minh, trước hết là đối với chi uỷ và đồng chí bí thư chi bộ để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng.

Câu hỏi 44: Đảng viên A vi phạm nguyên tắc tài chính gây thất thoát ngân sách xã. Căn cứ vào nội dung, tích chất mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, đảng uỷ xã đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo và buộc đảng viên A phải thu hồi tiền thất thoát nộp cho ngân sách xã. Song đến nay đã quá thời gian quy định thu hồi và các tổ chức đảng có thẩm quyền động viên, đôn đốc nhiều lần nhưng đảng viên A vẫn nhiều lần cố tình không thực hiện. Trường hợp này có xem xét kỷ luật tiếp không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 2, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: Đảng viên phải: "Chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng".

Căn cứ vào quy định trên, đảng viên A mặc dù đã được các tổ chức đảng có thẩm quyền động viên, giáo dục nhiều lần nhưng vẫn cố tình không chấp hành nghiêm chỉnh quyết định của đảng uỷ xã là vi phạm kỷ luật của Đảng. Các tổ chức đảng có thẩm quyền cần xem xét cụ thể tính chất, mức độ tác hại, nguyên nhân để kết luận chính xác và có hình thức xử lý thích hợp đối với đảng viên A để giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Câu hỏi 45: Sau khi kết nạp Đảng được ba tháng, đồng chí X có vi phạm đến mức không còn đủ tư cách, phẩm chất của người đảng viên. Trường hợp này xử lý thế nào?

Trả lời:

Điểm 2.3, Khoản 2, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xoá tên trong danh sách đảng viên, không kỷ luật khai trừ".

Theo quy định trên, trường hợp như câu hỏi nêu trên thì đồng chí X vi phạm đến mức không còn đủ tư cách, phẩm chất của người đảng viên. Do đó, phải thực hiện việc xóa tên trong danh sách đảng viên, không thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ.

Câu hỏi 46: Đồng chí H là chi ủy viên vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ ra khỏi Đảng, nhưng đồng chí H xin ra khỏi Đảng. Trường hợp này xử lý thế nào?

Trả lời:

Khoản 2, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải kỷ luật khai trừ, không áp dụng biệt pháp xoá tên, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng. Cấp uỷ viên vi phạm đến mức cách chức thì phải cách chức, không để thôi giữ chức".

Theo quy định trên, khi xem xét trường hợp đồng chí H, tổ chức đảng có thẩm quyền không chấp nhận cho đảng viên H xin ra khỏi Đảng, mà phải căn cử nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, kết luận, xử lý kỷ luật đối với đồng chí H bằng hình thức thích hợp để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng.

Câu hỏi 47: Đồng chí M là ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy xã (nhưng không phải là đảng ủy viên đảng ủy xã) có vi phạm kỷ luật về nhiệm vụ do cấp trên giao đến mức phải thi hành kỷ luật. Chi bộ nơi đồng chí M sinh hoạt đã xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đồng chí M bằng hình thức khiển trách.

Chi bộ quyết định kỷ luật đồng chí M có đúng thẩm quyền không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm uỷ do cấp trên giao). Nhiệm vụ do cấp trên giao là công việc do tổ chức đảng cấp trên hoặc lãnh đạo cấp trên có thẩm quyền giao cho đảng viên.

Nếu phải xử lý kỷ luật cao hơn, chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định".

Điểm 6.6, Khoản 6, Điều 36 trong Hướng dẫn này cũng quy định: "Việc kỷ luật đối với uỷ viên uỷ ban kiểm tra là cấp uỷ viên tiến hành như đối với cấp uỷ viên. Nếu uỷ viên uỷ ban kiểm tra không phải là cấp uỷ viên thì việc xử lý kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thực hiện như đối với cán bộ do cấp uỷ cùng cấp quản lý; trường hợp kỷ luật cách chức, khai trừ do cấp uỷ cùng cấp quyết định".

Như vậy, theo các quy định trên thì đồng chí M vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao và đồng chí thuộc đảng uỷ xã quản lý, nên thẩm quyền kỷ luật đối với đồng chí M thuộc đảng uỷ xã. Chi bộ quyết định kỷ luật đồng chí M là không đúng thẩm quyền. Chi bộ chỉ có thẩm quyền biểu quyết đề nghị thi hành kỷ luật đối với đồng chí M và báo cáo đề nghị đảng ủy xã xem xét, quyết định kỷ luật theo thẩm quyền.

Câu hỏi 48: Đồng chí H là đảng viên không giữ chức  vụ và không thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý có vi phạm. Chi bộ nơi đồng chí H sinh hoạt đã tiến hành xem xét và biểu quyết (bằng phiếu kín) nhất trí thi hành kỷ luật đồng chí H bằng hình thức khiển trách. Sau đó, chi bộ báo cáo và được đảng ủy cơ sở quyết định thi hành kỷ luật khiển trách đồng chí H. Việc làm đó có đúng và cần thiết không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao). Nhiệm vụ do cấp trên giao là công việc do tổ chức đảng cấp trên hoặc lãnh đạo cấp trên có thẩm quyền giao cho đảng viên.

Nếu phải xử lý kỷ luật cao hơn, chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định".

Điểm 6.1, Khoản 6, Điều 39 trong Hướng dẫn này quy định: "Quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên của chi bộ có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Trong vòng 10 ngày, chi uỷ làm văn bản báo cáo cấp trên và lưu hồ sơ. Văn bản của chi bộ (trong đảng bộ bộ phận, trong đảng bộ cơ sở) được đóng dấu của đảng uỷ cơ sở vào phía trên, góc trái. Đảng uỷ cơ sở hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp không phải ra quyết định chuẩn y".

Căn cứ vào các quy định trong Hướng dẫn trên thì biểu quyết quyết định kỷ luật của chi bộ đối với đồng chí H đã có hiệu lực thi hành, không cần phải có sự chuẩn y của đảng ủy cơ sở. Quyết định kỷ luật của chi bộ đối với đảng viên vi phạm được đóng dấu của đảng ủy cơ sở vào phía trên, góc trái. Trường hợp này, đảng ủy cơ sở không phải ra quyết định kỷ luật đối với đồng chí H.

Câu hỏi 49: Một đảng viên là phó bí thư chi bộ thuộc đảng bộ cơ sở có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo. Quyết định đó đúng hay sai?

Trả lời:

Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định các tổ chức đảng sau đây có thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên: Chi bộ, ban chấp hành đảng bộ các cấp (trừ chi ủy và đảng bộ bộ phận) và ban thường vụ của ban chấp hành đảng bộ từ cấp trên cơ sở trở lên trở lên; ủy ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên.

Ngoài các tổ chức đảng trên, các tổ chức khác (chi uỷ, đảng ủy bộ phận, ban thường vụ đảng uỷ cơ sở, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở, ban cán sự đảng, đảng đoàn, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy) không có thẩm quyền thi hành kỷ luật mà chỉ có quyền báo cáo và kiến nghị với cấp ủy có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên và tổ chức đảng hoạt động trong lĩnh vực mình phụ trách.

- Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở không có thẩm quyền kỷ luật đảng viên nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất đảng uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định".

Căn cứ vào quy định trên thì việc ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở quyết định thi hành uỷ luật đối với đồng chí phó bí thư chi bộ là sai vì không có thẩm quyền. Trường hợp này ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở phải báo cáo đề nghị đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định.

Câu hỏi 50: Đảng viên X có vi phạm trong việc lấn chiếm đất đai, mặc dù đã được giáo dục nhưng không sửa chữa. Căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, ủy ban kiểm tra đảng ủy xã đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đảng viên X. Việc thi hành kỷ luật đảng viên của ủy ban kiểm tra đảng ủy xã có đúng thẩm quyền không?

Trả lời:

Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở không có thẩm quyền kỷ luật đảng viên nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất đảng uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định".

Như vậy, việc uỷ ban kiểm tra đảng uỷ xã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với đảng viên X là không đúng thẩm quyền theo quy định của Điều lệ Đảng. Tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền phải xem xét trách nhiệm của ủy ban kiểm tra đảng ủy xã.

Câu hỏi 51: Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đối với cấp uỷ viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ, từ cấp uỷ viên đảng uỷ cơ sở cho đến Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, nếu vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao (nhiệm vụ do cấp uỷ giao hoặc nhiệm vụ chuyên môn được giao) phải áp dụng hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên thì chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định".

Nhưng Hướng dẫn này lại quy định: "Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao)".

Vậy có mâu thuẫn không?

Trả lời:

Theo các quy định trên thì đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao) thì chi bộ có thẩm quyền thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo. Nếu vi phạm phải xử lý kỷ luật bằng các hình thức cách chức, khai trừ thì không thuộc thẩm quyền của chi bộ, do vậy, chi bộ phải đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Nhưng đối với vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao thì chi bộ không có thẩm quyền xử lý kỷ luật từ hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo trở lên đối với cấp ủy viên các cấp và cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý. Do đó chi bộ phải đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Do đó, các quy định trên trong Hướng dẫn không có sự mâu thuẫn.

Câu hỏi 52: Đảng viên T là cán bộ thuộc diện đảng ủy cơ sở quản lý, vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Việc xem xét, xử lý kỷ luật đối với đồng chí T được tiến hành từ chi bộ đến đảng ủy cơ sở đúng quy trình theo hướng dẫn của Trung ương.

Căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, đảng ủy cơ sở biểu quyết đề nghị ủy ban kiểm tra huyện ủy thi hành kỷ luật đối với đồng chí T bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng.

Sau khi nghe đồng chí T trình bày, ủy ban kiểm tra huyện ủy xem xét và quyết định kỷ luật đồng chí T bằng hình thức khai trừ và đã công bố quyết định, sau đó, đồng chí T có đơn khiếu nại kỷ luật gửi ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, tiếp đó, lại gửi đơn khiếu nại lên ban thường vụ tỉnh ủy.

Vậy, quá trình xem xét, thi hành kỷ luật như trên có đúng với quy định của Điều lệ Đảng và Hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương không? Việc khiếu nại kỷ luật của đồng chí T có đúng không và có phải giải quyết không?

Trả lời:

Điểm 4.2, Khoản 4, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Uỷ ban kiểm tra cấp uỷ huyện, quận và tương đương quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cơ sở và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp; quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên của chi bộ, đảng uỷ bộ phận trực thuộc đảng bộ cơ sở hoặc cán bộ thuộc diện đảng uỷ cơ sở quản lý nhưng không phải là đảng uỷ viên đảng uỷ cơ sở hay cán bộ do cấp uỷ huyện, quận và tương đương quản lý.

Điểm 7.1, Khoản 7, Điều 39 Hướng dẫn trên quy định: "Việc giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng được tiến hành từ uỷ ban kiểm tra hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định thi hành kỷ luật. Sau khi được giải quyết, nếu đảng viên hoặc tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật không đồng ý, có khiếu nại tiếp thì tổ chức đảng cấp trên tiếp tục giải quyết cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương".

Như vậy, theo các quy định trên, quá trình xem xét thi hành kỷ luật của ủy ban kiểm tra huyện ủy đối với đảng viên T là đúng quy định của Điều lệ Đảng và Hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương về nguyên tắc, quy trình, thủ tục thẩm quyền.

Trường hợp như câu hỏi nêu, sau khi ủy ban kiểm tra huyện ủy quyết định kỷ luật, đảng viên T không đồng ý, gửi đơn khiếu nại kỷ luật lên ủy ban kiểm tra tỉnh ủy và tiếp đó lại gửi đơn khiếu nại lên ban thường vụ tỉnh ủy là không đúng quy định của Đảng. Bởi vì, theo quy định, nếu đảng viên T không đồng ý với quyết định kỷ luật của ủy ban kiểm ra huyện ủy thì phải gửi đơn khiếu nại lên ban thường vụ huyện ủy, sau khi ban thường vụ huyện ủy giải quyết khiếu nại, nếu đảng viên T vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của ban thường vụ huyện ủy đối với mình thì phải gửi đơn khiếu nại kỷ luật đến ban chấp hành đảng bộ huyện. Việc khiếu nại của đảng viên T là không đúng quy định của Điều lệ Đảng, ủy ban kiểm tra tỉnh ủy và ban thường vụ tỉnh ủy phải chuyển đơn khiếu nại về ban thường vụ huyện ủy để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời thông báo cho đảng viên T biết bằng văn bản.

Câu hỏi 53: Đảng viên B là phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, ban chấp hành đảng bộ xã đã đề nghị ban thường vụ huyện ủy thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ. Sau khi được ban thường vụ huyện ủy giao, ủy ban kiểm tra huyện ủy đã xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đảng viên B bằng hình thức khiển trách.

Đảng viên B không khiếu nại, nhưng ban chấp hành đảng bộ xã cho rằng với hình thức kỷ luật khiển trách là quá nhẹ. Mặc dù vẫn nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của ủy ban kiểm tra huyện ủy, nhưng ban chấp hành đảng bộ xã có đơn kiến nghị ban thường vụ huyện ủy xem xét lại.

Trường hợp này, ban thường vụ huyện ủy có xem xét không?

Trả lời:

Điểm 5.3, Khoản 5, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên khi phát hiện đảng viên là cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiệm nhiệm vụ đảng viên, phải chỉ đạo tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là chi bộ xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền. Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xem xét, xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên xem xét, xử lý; đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng cấp dưới và người đứng đầu tổ chức đảng đó".

Điểm 2.1, Khoản 2, Điều 38 trong Hướng dẫn trên quy định: "Trường hợp vi phạm đếm mức phải xử lý kỷ luật nhưng tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp quyết định xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, không phải làm thủ tục từ dưới lên".

Theo các quy định trên, trường hợp ban chấp hành đảng bộ xã thấy kỷ luật đối với đồng chí B là quá nhẹ, có kiến nghị với ban thường vụ huyện ủy về quyết định kỷ luật của ủy ban kiểm ra huyện ủy, thì ban thường vụ huyện ủy cần phải xem xét, nếu thấy quyết định của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ không đúng mức thì ban thường vụ huyện uỷ xem xét, quyết định kỷ luật đối với đảng viên B theo thẩm quyền và không phải làm thủ tục tử dưới lên.

Câu hỏi 54: Đồng chí A là ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy xã, nhưng không phải là đảng ủy viên, vi phạm đến mức phải cách chức ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy xã.

Trường hợp này tổ chức đảng nào có quyền quyết định cách chức?

Trả lời:

Điểm 6.6, Khoản 6, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc kỷ luật đối với uỷ viên uỷ ban kiểm tra là cấp uỷ viên thì việc kỷ luật khiển trách, cảnh cáo tiến hành như đối với cấp uỷ viên.  Nếu uỷ viên uỷ ban kiểm tra không phải là cấp uỷ viên thì việc kỷ luật khiển trách, cảnh cáo tiến hành như đối với cán bộ do cấp uỷ cùng cấp quản lý; trường hợp kỷ luật cách chức, khai trừ do cấp uỷ cùng cấp quyết định".

Căn cứ vào quy định trên, đồng chí A là ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy (không phải là cấp ủy viên) nhưng là cán bộ do đảng ủy xã quản lý nếu vi phạm phải thi hành kỷ luật từ khiển trách đến khai trừ thì do ban chấp hành đảng bộ xã quyết định.

Câu hỏi 55: Đồng chí M là cán bộ cấp trên sinh hoạt tại chi bộ, có vi phạm kỷ luật đảng về phẩm chất đạo đức, lối sống đến mức phải xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của chi bộ. Chi bộ đã họp xem xét và quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với đồng chí M, nhưng không báo cáo tổ chức đảng cấp trên quản lý đồng chí này. Việc làm đó của chi bộ đúng hay sai?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo của chi bộ đối với cấp uỷ viên các cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý phải báo cáo lên các cấp uỷ mà đảng viên đó là thành viên và cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý cán bộ đó".

Như vậy, theo quy định trên, việc chi bộ quyết định kỷ luật đồng chí M là cán bộ cấp trên sinh hoạt tại chi bộ mà không báo cáo tổ chức đảng cấp trên quản lý đồng chí M là không đúng quy định của Đảng. Tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo chi bộ phải thực hiện nghiêm túc việc báo cáo kết quả thi hành kỷ luật đối với đồng chí M lên tổ chức đảng và cấp ủy ủy ban kiểm tra quản lý đảng viên M; đồng thời kiểm điểm rút kinh nghiệm về việc thi hành kỷ luật trong trường hợp nêu trên.

Câu hỏi 56: Một đồng chí là đảng ủy viên đảng ủy cơ sở kiêm bí thư chi bộ vi phạm kỷ luật đến mức phải thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức chi ủy viên thì đảng ủy cơ sở có quyền quyết định hay phải đề nghị lên cấp ủy cấp trên xem xét, quyết định?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm ra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới".

Quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên của chi bộ hoặc đảng uỷ bộ phận trực thuộc nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý".

Như vậy theo quy định trên, đồng chí M là đảng ủy viên đảng ủy cơ sở kiêm bí thư chi bộ (trực thuộc đảng ủy) vi phạm kỷ luật đến mức phải cách chức chi ủy viên thì đảng ủy cơ sở đề nghị ban thường vụ quận, huyện ủy hoặc tương đương xem xét, quyết định lý luật theo thẩm quyền.

Lưu ý: Điểm 6.2, Khoản 1, Điều 36 Hướng dẫn trên quy định: "Đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ… Nếu phải cách chức cấp uỷ viên ở một cấp uỷ cấp dưới thì do ban thường vụ cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định". Nhưng vì ban thường vụ đảng ủy cơ sở không có thẩm quyền thi hành kỷ luật nên quy định trên chỉ áp dụng cho đảng viên giữ nhiều chức vụ, tham gia nhiều cấp ủy thuộc diện huyện, quận ủy hoặc tương đương trở lên.

Câu hỏi 57: Đồng chí X là đảng viên dự bị phạm tội buôn bán ma túy, bị cơ quan pháp luật bắt tạm giam. Tại chi bộ nơi đảng viên dự bị sinh hoạt có hai loại ý kiến:

- Ý kiến thứ nhất: Ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên dự bị, sau khi tòa án xét xử mới xem xét kỷ luật đảng.

- Ý kiến thứ hai: Ra quyết định xóa tên (theo hướng dẫn tại Điều 35 Điều lệ Đảng, đồng chí này đã không đủ tư cách đảng viên).

Ý kiến nào đúng?

Trả lời:

Điểm 1, Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Khi cơ quan có thẩm quyền bắt, khám xét khẩn cấp đối với công dân là đảng viên thì tổ chức đảng hoặc đảng viên là thủ trưởng của cơ quan đó có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho tổ chức đảng trực tiếp quản lý đảng viên đó biết.

Đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc bị tạm giam, nếu tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận rõ đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý thì chủ động xem xét, xử lý kỷ luật đảng, không nhất thiết chờ kết luận hoặc tuyên án của toà án có thẩm quyền, không cần quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt mới xem xét, xử lý kỷ luật. Sau khi có bản án hoặc quyết định của toà án, nếu thấy cần thiết, tổ chức đảng có thẩm quyền kỷ luật xem xét lại việc kỷ luật đảng đối với đảng viên đó.

Trường hợp bị toà án có thẩm quyền tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ bản án của toà án để quyết định khai trừ (đối với đảng viên chính thức) hoặc xoá tên trong danh sách đảng viên (đối với đảng viên dự bị), không phải theo quy trình thi hành kỷ luật. Tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định khai trừ đảng viên thông báo bằng văn bản cho chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt và các tổ chức đảng nơi đảng viên đó là thành viên".

Như vậy, căn cứ quy định trên, trường hợp như câu hỏi nêu thì tổ chức đảng có thẩm quyền phải ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên X để phục vụ điều tra. Trong thời gian bị đình chỉ sinh hoạt, nếu tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận rõ ràng đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý thì phải chủ động xem xét, xử lý kỷ luật đảng, không nhất thiết phải chờ kết luận hoặc tuyên phạt của tòa án có thẩm quyền. Nếu chưa đủ cơ sở để xem xét, xử lý kỷ luật thì để lại sau khi có bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật mới tiến hành xem xét, xử lý kỷ luật hoặc xóa tên trong danh sách đảng viên đối với đảng viên X.

Cả hai ý kiến trên đều chưa chính xác.

Câu hỏi 58: Việc chi bộ thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo có hiệu lực ngay sau khi có kết quả bỏ phiếu biểu quyết quyết định kỷ luật nhưng lại cho phép trong vòng 10 ngày, chi bộ làm văn bảo báo cáo cấp trên. Như vậy, đảng viên muốn khiếu nại được tính từ ngày nào? Vì muốn khiếu nại phải có văn bản?

Trả lời:

Điểm 6, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm có hiệu lực ngay sau khi công bố quyết định.

Quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên của chi bộ có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Trong vòng 10 ngày, chi uỷ làm văn bản báo cáo cấp trên và lưu hồ sơ. Văn bản của chi bộ (trong đảng bộ bộ phận, trong đảng bộ cơ sở) được đóng dấu của đảng uỷ cơ sở vào phía trên, góc trái. Đảng uỷ cơ sở hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp không phải ra quyết định chuẩn y".

Như vậy, theo quy định trên, việc thi hành kỷ luật của chi bộ đối với đảng viên vi phạm có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả bỏ phiếu quyết định kỷ luật. Đảng viên có quyền khiếu nại ngay sau khi chi bộ công bố kết qua biểu quyết kỷ luật đối với mình (kể cả khi chưa nhận được quyết định kỷ luật bằng văn bản của chi bộ). Trong quyết định thi hành kỷ luật của chi bộ đối với đảng viên vi phạm vẫn ghi quyết định có hiệu lực tính từ ngày chi bộ công bố quyết định biểu quyết kỷ luật, còn ngày chi bộ ký ban hành quyết định kỷ luật có thể là cùng ngày hoặc sau ngày chi bộ công bố quyết định biểu quyết kỷ luật đối với đảng viên. Sau khi đóng dấu của đảng ủy cơ sở vào phía trên, góc trái, chi bộ trao quyết định cho đảng viên để đảng viên chấp hành và có căn cứ, cơ sở thực hiện quyền khiếu nại của mình.

Câu hỏi 59: Tại cuộc họp chi bộ xem xét thi hành kỷ luật những đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, sau khi nghe các đảng viên vi phạm báo cáo sự kiểm điểm và phân tích của chi bộ, việc biểu quyết kỷ luật bằng phiếu kín được tiến hành như sau:

Chi ủy phát cho mỗi đảng viên một lá phiếu, trong đó cột thứ nhất ghi tên 5 đảng viên (có một cấp ủy viên), các cột tiếp theo ghi: Không kỷ luật, khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ. Tán thành hoặc không tán thành áp dụng hình thức kỷ luật nào đối với 5 đảng viên trên thì đánh dấu "X" vào ô tương ứng trong phiếu, rồi bỏ vào thùng phiếu. Việc làm đó có sai không?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1 Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải bằng phiến kín. Sau khi xem xét, kết luận, tổ chức đảng phải biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỷ luật. Nếu kết quả biểu quyết không kỷ luật thì phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên. Trường hợp kết quả biểu quyết đến mức phải kỷ luật thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể".

Theo quy định trên thì chi bộ phát biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỷ luật trước đối với từng đảng viên. Nếu có kết quả bỏ phiếu biểu quyết kỷ luật thì sau đó mới bỏ phiếu lần thứ hai biểu quyết quyết định hình thức kỷ luật cụ thể đối với từng đảng viên vi phạm để bảo đảm nguyên tắc, quy trình, thủ tục trong xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm trong phiếu biểu quyết quyết định hình thức kỷ luật cụ thể có bốn ô (khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ). Như vậy việc làm trên của chi bộ như câu hỏi nêu là sai quy định của Đảng.

Câu hỏi 60: Chi bộ có 12 đảng viên nên mọi người đều biết rõ nét chữ của nhau. Trong hội nghị chi bộ xem xét kỷ luật đảng viên, khi bỏ phiếu, đồng chí chủ trì yêu cầu mọi người phải tự viết vào phiếu. Do đó, có đảng viên đề nghị thực hiện đúng cách bỏ phiếu kín, đồng chí chủ trì không đồng ý. Vậy, cách nào đúng?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm ra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải bằng phiếu kín. Sau khi xem xét, kết luận, tổ chức đảng phải biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỷ luật. Nếu kết quả biểu quyết không kỷ luật thì phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên. Trường hợp kết quả biểu quyết đến mức phải kỷ luật thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể. Trường hợp biểu quyết không có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định thì báo cáo đầy đủ hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh".

Phiếu biểu quyết đề nghị thi hành kỷ luật đảng viên phải là phiếu đánh máy, in ghi rõ họ và tên, chức vụ của đảng viên và những yêu cầu cần biểu quyết (nơi không có điều kiện đánh máy, in phiếu, chi ủy cử một người viết đầy đủ những nội dung cần biểu quyết vào phiếu), đóng dấu cấp ủy ở góc trái phía trên của phiếu biểu quyết (chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở thì đóng dấu của đảng ủy cơ sở). Phiếu kín là phiếu không để lại dấu hiệu riêng, tiết lộ danh tính người bỏ phiếu (trừ trường hợp người bỏ phiếu không yêu cầu). Vì vậy, phiếu phải được tổ chức đảng có thẩm quyền phát ra, mọi yêu cầu chữ viết, ký hiệu ghi chú cho tất cả các phiếu phải giống nhau (do đánh máy, in hoặc do một người viết), không có dấu hiệu riêng, người bỏ phiếu chỉ đánh dấu "X" hoặc "+" vào phiếu là đủ.

Mục đích của việc quy định này là bảo đảm dân chủ thực sự, người bỏ phiếu được bày tỏ chân thực chính kiến của mình, không bị tác động bởi bất kỳ nguyên nhân nào. Những cách làm không đạt yêu cầu trên là không đúng quy định cần được chấn chỉnh khắc phục kịp thời.

Câu hỏi 61: Ban Chấp hành Trung ương hướng dẫn việc biểu quyết kỷ luật phải được thực hiện bằng phiếu kín. Nhưng ủy ban kiểm tra cấp trên của chúng tôi lại hướng dẫn: Ở chi bộ thực hiện đúng như trên, còn từ đảng ủy cơ sở trở lên, nếu chưa có sự nhất trí cao thì biểu quyết bằng phiếu kín, nếu ý kiến đã tập trung thống nhất tuyệt đối thì không nhất thiết biểu quyết bằng phiếu kín và khi báo cáo lên trên phải báo cáo rõ vấn đề này. Hướng dẫn như vậy có đúng không?

Trả lời:

- Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII, Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải thực hiện bằng phiếu kín".

 - Trường hợp như câu hỏi nêu là không đúng với hướng dẫn trên, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ được quy định tại Điều 9, Điều lệ Đảng khóa XI.

Việc quy định biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải bằng phiếu kín là nhằm bảo đảm dân chủ thực sự trong thi hành kỷ luật đối với tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc phải được thực hiện nghiêm chỉnh ở tất cả các tổ chức trong toàn Đảng, không có ngoại lệ. Uỷ ban kiểm tra đã tự ý hướng dẫn như trên cần nghiêm túc tự kiểm điểm rút kinh nghiệm và hướng dẫn lại cho đúng với quy định của Điều lệ Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

Câu hỏi 62: Chi bộ họp có 12/13 đảng viên chính thức để xem xét đề nghị xử lý kỷ luật một đồng chí chi ủy viên. Kết quả bỏ phiếu đề nghị kỷ luật như sau: 1 phiếu đề nghị khiển trách, 2 phiếu đề nghị cảnh cáo, 5 phiếu đề nghị cách chức chi ủy viên, 2 phiếu đề nghị khai trừ, có 1 phiếu đề nghị cả hai hình thức: khiển trách và cảnh cáo, 1 phiếu đề nghị cả ba hình thức: cảnh cáo, cách chức, khai trừ.

Xử lý trường hợp này như thế nào?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong Chương VII, Chương VIII, Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Trường hợp biểu quyết không có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định thì báo cáo đầy đủ hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh".

- Căn cứ quy định trên, trường hợp như câu hỏi nêu thì trong tổng số phiếu biểu quyết có 1 phiếu đề nghị hai hình thức kỷ luật và 1 phiếu đề nghị ba hình thức kỷ luật là không hợp lệ; số phiếu còn lại phân tán, nên không có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định để thi hành kỷ luật.

Như vậy, trường hợp này chi bộ phải báo cáo bằng văn bản kết quả biểu quyết đề nghị kỷ luật bằng phiếu kín và hồ sơ lên đảng ủy cơ sở để xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

Câu hỏi 63: Đảng viên M vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật. Chi bộ yêu cầu đảng viên M phải kiểm điểm trước chi bộ về vi phạm của mình, nhưng đảng viên M từ chối không kiểm điểm. Trường hợp này xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 39, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét kỷ luật".

Điểm 1.1, Khoản 1, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:"Cấp uỷ hướng dẫn đảng viên vi phạm kỷ luật chuẩn bị bản tự kiểm điểm. Hội nghị chi bộ thảo luận, góp ý và kết luận rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và biểu quyết (đề nghị hoặc quyết định) kỷ luật… Trường hợp có đầy đủ bằng chứng, nếu đảng viên vi phạm từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam thì tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét, kỷ luật".

Căn cứ vào các quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, nếu đảng viên M từ chối kiểm điểm trước chi bộ thì chi bộ, cấp uỷ hoặc ủy ban kiểm tra có thẩm quyền vẫn tiến hành xem xét, thi hành kỷ luật theo quy định. Trong biên bản hội nghị chi bộ xét kỷ luật phải ghi rõ lý do đảng viên M không kiểm điểm.

Câu hỏi 64: Đảng viên chính thức có vi phạm, bị cơ quan pháp luật khởi tố bị can, nhưng cho tại ngoại. Theo quy định của Đảng thì khi chưa bị đình chỉ sinh hoạt đảng, đảng viên có vi phạm vẫn được đến dự hội nghị chi bộ để xét kỷ luật đối với mình. Việc xác định tổng số đảng viên để tính kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật hoặc đề nghị thi hành kỷ luật có tính đảng viên đó không?

Trả lời:

Khoản 3, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"3- Kỷ luật giải tán một tổ chức đảng và khai trừ đảng viên phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng cấp dưới đề nghị và do tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định.

3.1- Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên, khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên hoặc thành viên của tổ chức đảng đó".

"Một nửa hay hai phần ba quy định ở trên được tính trên tổng số thành viên có quyền biểu quyết của tổ chức đảng (ở chi bộ là số đảng viên chính thức, trừ số đảng viên được miễn sinh hoạt không có mặt tại cuộc họp; ở cấp uỷ là tổng số cấp uỷ viên), không tính trên số lượng thành viên có mặt trong cuộc họp".

Như vậy, theo quy định trên, đảng viên chính thức bị khởi tố nhưng không bị tạm giam, chưa bị đình chỉ sinh hoạt đảng được quyền đến dự hội nghị của chi bộ để xét kỷ luật đối với đảng viên đó và được tính vào tổng số thành viên có quyền biểu quyết quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật.

Câu hỏi 65: Đảng viên X chuyển sinh hoạt đảng tạm thời đến chi bộ mới có quyền biểu quyết kỷ luật đối với đảng viên như đảng viên khác trong chi bộ đó không? Ở chi bộ có hai loại ý kiến:

- Ý kiến thứ nhất: Đảng viên chuyển sinh hoạt đảng tạm thời không được quyền biểu quyết kỷ luật đối với đảng viên.

- Ý kiến thứ hai: Đảng viên chuyển sinh hoạt đảng tạm thời được biểu quyết kỷ luật đối với đảng viên.

Ý kiến nào đúng?

Trả lời:

- Tiết b, Điểm 13.3.2, Mục 13, Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về quy định thi hành Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên sinh hoạt đảng tạm thời có nhiệm vụ và quyền hạn: ở nơi sinh hoạt chính thức thì thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 2 và các quyền ghi tại Điều 3 của Điều lệ Đảng; ở nơi sinh hoạt tạm thời thì trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử".

- Theo quy định trên, đảng viên X chuyển sinh hoạt đảng tạm thời đến chi bộ mới không được quyền biểu quyết kỷ luật đảng viên vi phạm như các đảng viên chính thức khác trong chi bộ đó. Như vậy, ý kiến thứ nhất đúng.

Câu hỏi 66: Chi bộ có quyền thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo cấp ủy viên cấp trên sinh hoạt tại chi bộ hay không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao").

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo của chi bộ đối với cấp uỷ viên các cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý phải báo cáo lên các cấp uỷ mà đảng viên đó là thành viên và cấp ủy, uỷ ban kiểm tra của cấp quản lý cán bộ đó".

Như vậy, chi bộ có quyền thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo cấp ủy viên cấp trên sinh hoạt tại chi bộ nếu vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Trường hợp cấp ủy viên các cấp vi phạm cả về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cả nhiệm vụ do cấp trên giao thì chi bộ phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật đối với cấp ủy viên đó.

Câu hỏi 67: Một đảng viên vi phạm kỷ luật đảng. Khi chi bộ họp bàn việc thi hành kỷ luật có 9/11 đảng viên chính thức dự họp. Chi bộ biểu quyết bằng cách giơ tay có 5/9 đảng viên chính thức dự họp đồng ý hình thức kỷ luật cảnh cáo.

Trường hợp này xử lý như thế nào?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc biểu quyết đề nghị kỷ luật hoặc biểu quyết quyết định kỷ luật phải bằng phiếu kín. Sau khi xem xét, kết luận, tổ chức đảng phải biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỷ luật. Nếu kết quả biểu quyết không kỷ luật thì phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên. Trường hợp kết quả biểu quyết đến mức phải kỷ luật thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể. Trường hợp biểu quyết không có hình thức kỷ luật nào có đủ đa số phiếu theo quy định thì báo cáo đầy đủ hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh.

Điểm 3.1, Khoản 3, Điều 38 Hướng dẫn trên quy định: "Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật khiển trách cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên, khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên hoặc thành viên của tổ chức đó.

Một nửa hay hai phần ba quy định ở trên được tính trên tổng số thành viên có quyền biểu quyết của tổ chức đảng (ở chi bộ là số đảng viên chính thức, trừ số đảng viên được miễn sinh hoạt không có mặt tại cuộc họp; ở cấp uỷ là tổng số cấp ủy viên), không tính trên số thành viên có mặt trong cuộc họp".

Theo các quy định trên, trường hợp như câu hỏi nêu thì khi chi bộ họp bàn việc thi hành kỷ luật đảng viên, có 9/11 đảng viên chính thức dự họp. Khi biểu quyết bằng cách giơ tay chỉ có 5/9 đảng viên chính thức dự họp đồng ý hình thức kỷ luật cảnh cáo. Việc biểu quyết bằng giơ tay là trái với quy định nêu trên của Đảng. Hơn nữa, kết quả biểu quyết mới đạt 5/11 đảng viên chính thức của chi bộ là chưa đủ trên một nửa số đảng viên biểu quyết quyết định kỷ luật đảng viên theo quy định.

Như vậy, trường hợp câu hỏi nêu, chi bộ phải báo cáo đầy đủ kết quả biểu quyết kỷ luật và hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định, đồng thời yêu cầu chi bộ nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm và xem xét trách nhiệm của chi bộ đó.

Câu hỏi 68: Một đảng viên vi phạm, chi bộ quyết định kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo và ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở đã ra quyết định chuẩn y.

Làm như vậy đúng hay sai?

Trả lời:

Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Ủy ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở không có thẩm quyền kỷ luật đảng viên nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất đảng uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định".

Điểm 6.1, Khoản 6, Điều 39 trong Hướng dẫn trên cũng quy định: "Quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên của chi bộ có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Trong vòng 10 ngày, chi uỷ làm văn bản báo cho cấp trên và lưu hồ sơ. Văn bản của chi bộ trong đảng bộ bộ phận, trong đảng bộ cơ sở được đóng dấu của đảng uỷ cơ sở vào phía trên, góc trái. Đảng uỷ cơ sở hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp không phải ra quyết định chuẩn y".

Theo các quy định trên, Nghị quyết của chi bộ về thi hành kỷ luật cảnh cáo đảng viên có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Văn bản của chi bộ chỉ đóng dấu của đảng ủy cơ sở vào phía trên, góc trái. Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở không được quyền thi hành kỷ luật đảng viên và cũng không có thẩm quyền chuẩn y quyết định kỷ luật của chi bộ. Việc làm của ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở nói trên là không đúng quy định về thẩm quyền, thủ tục thi hành kỷ luật đảng, cần phải được kiểm điểm, rút kinh nghiệm.

Câu hỏi 69: Một bí thư chi bộ vi phạm nghiêm trọng, nhưng chi bộ không xử lý kỷ luật; một đảng ủy viên vi phạm bị đảng ủy cơ sở quyết định kỷ luật bằng hình thức khiển trách. Qua kiểm tra, cấp ủy cấp trên quyết định thi hành kỷ luật khai trừ đảng viên là bí thư chi bộ đó và cách chức đảng ủy viên nói trên.

Cấp trên làm như vậy có đúng không?

Trả lời:

Khoản 5, Điều 36, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp trên có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật do cấp dưới quyết định".

Khoản 2, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó.

Trường hợp vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật nhưng tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì cấp ủy hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp quyết định xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, không phải làm thủ tục từ dưới lên.

Đối với tổ chức đảng có trách nhiệm xem xét, xử lý nhưng không xử lý hoặc xử lý không đúng mức tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì phải xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó và nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải xử lý đúng mức".

Theo nội dung các quy định trên, việc cấp ủy cấp trên ra quyết định khai trừ một đảng viên là bí thư chi bộ vi phạm khuyết điểm nghiêm trọng (chi bộ và đảng ủy cơ sở không thi hành kỷ luật) hoặc nâng mức kỷ luật một đảng ủy viên đảng ủy cơ sở từ khiển trách (do đảng ủy cơ sở quyết định kỷ luật) lên cách chức đảng ủy viên là đúng thẩm quyền. Đồng thời, phải xem xét trách nhiệm của chi bộ trong việc không thi hành kỷ luật hoặc đề nghị thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm nghiêm trọng.

Câu hỏi 70: Một tổ chức đảng không thi hành kỷ luật hoặc thi hành kỷ luật quá nhẹ đối với đảng viên vi phạm có được coi là tổ chức đảng trong sạch không?

Trả lời:

Điểm 2.2, Khoản 2, Điều 38 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11- 2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đối với tổ chức đảng có trách nhiệm xem xét, xử lý nhưng không xử lý hoặc xử lý không đúng mức tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì phải xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó và nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải xử lý đúng mức".

Theo quy định trên, một tổ chức đảng không thi hành kỷ luật hoặc thi hành kỷ luật quá nhẹ đối với đảng viên vi phạm thì đó là tổ chức đảng có khuyết điểm, không thể coi là một tổ chức đảng trong sạch.

Câu hỏi 71: Một chi bộ đảng bị xử lý kỷ luật thì xử lý kỷ luật những đảng viên trong chi bộ đó như thế nào?

Trả lời:

Điểm 1.2 và Điểm 1.3, Khoản 1, Điều 37 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Kỷ luật một tổ chức đảng phải xem xét và quy rõ trách nhiệm của tổ chức đó để xử lý cho đúng. Đồng thời phải xem xét trách nhiệm cá nhân để xử lý kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm có liên quan đến vi phạm của tổ chức đảng và xem xét trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng đó.

Tổ chức đảng bị kỷ luật thì tất cả thành viên trong tổ chức đó đều phải chịu trách nhiệm, phải ghi rõ nội dung, hình thức kỷ luật đối với tổ chức vào lý lịch từng thành viên. Những thành viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến quyết định sai lầm của tổ chức đó cũng được ghi rõ vào lý lịch đảng viên".

Theo quy định trên, một chi bộ bị xử lý kỷ luật thì phải xem xét trách nhiệm cá nhân các đảng viên trong chi bộ đó để xử lý kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm có liên quan đến vi phạm của tổ chức đảng và xem xét trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng đó, tất cả thành viên trong chi bộ đều phải chịu trách nhiệm, phải ghi rõ nội dung, hình thức kỷ luật đối với tổ chức vào lý lịch của từng đảng viên.

Câu hỏi 72: Một chi ủy viên là bí thư chi bộ vi phạm nghiêm trọng phải cách hết các chức vụ trong đảng. Thủ tục thực hiện cách các chức vụ đó như thế nào? Khi quyết định thi hành kỷ luật, cấp ủy cấp trên ghi là: "Cách chức chi ủy viên và bí thư chi bộ" như vậy có đúng không?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-1-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Đảng ủy cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.

Quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên của chi bộ hoặc đảng uỷ bộ phận trực thuộc nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

Như vậy, theo quy định trên thì việc cách chức chi ủy viên, bí thư chi bộ thuộc thẩm quyền quyết định của đảng ủy cấp trên trực tiếp, chi bộ chỉ có quyền đề nghị, không có quyền quyết định.

Chi ủy viên, bí thư chi bộ phải kiểm điểm trước chi bộ và tự nhận hình thức kỷ luật. Hội nghị chi bộ thảo luận, kết luận, biểu quyết đề nghị hình thức cách chức với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên chính thức của chi bộ và báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp quyết định.

Quyết định xử lý kỷ luật của cấp trên về việc cách chức chỉ cần ghi "cách chức chi ủy viên" hoặc ghi "cách hết các chức vụ trong Đảng" là đủ và đã cách chức chi ủy viên thì đương nhiên không còn chức bí thư chi bộ. Nếu trong quyết định kỷ luật ghi "cách chức chi ủy viên và bí thư chi bộ" là không cần thiết.

Câu hỏi 73: Một bí thư chi bộ có vi phạm bị cách chức bí thư. Sau đó ít lâu, đồng chí này lại tiếp tục có vi phạm mới cần phải xử lý kỷ luật tiếp, nhưng chưa đến mức phải khai trừ ra khỏi Đảng.

Như vậy, xử lý hình thức kỷ luật nào cho thỏa đáng?

Trả lời:

- Điểm 6.4, Khoản 6, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đối với chi bộ không có chi ủy, nếu cách chức bí thư hoặc phó bí thư chi bộ thì đương nhiên còn là đảng viên".

- Theo quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu một bí thư chi bộ bị xử lý kỷ luật cách chức bí thư thì vẫn còn là chi ủy viên (nếu chi bộ có chi ủy). Trường hợp chi bộ đó không có chi ủy, không có phó bí thư thì còn là đảng viên chính thức của chi bộ.

Sau khi bị kỷ luật cách chức bí thư chi bộ, đảng viên lại tiếp tục vi phạm đến mức phải xử lý thì tổ chức đảng có thẩm quyền tiến hành xem xét, xử lý đối với đảng viên vi phạm nêu trên thì tùy nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ mà áp dụng hình thức kỷ luật phù hợp.

Câu hỏi 74: Một đảng viên vi phạm pháp luật, tòa án xử sơ thẩm và tuyên phạt năm tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Đảng viên này kháng án. Trường hợp này xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 40, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên bị hình phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên phải khai trừ ra khỏi Đảng".

Điểm 1.3, Khoản 1 Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Trường hợp bị tòa án có thẩm quyền tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ bản án của tòa án để quyết định khai trừ (đối với đảng viên chính thức) hoặc xóa tên trong danh sách đảng viên (đối với đảng viên dự bị), không phải theo quy trình thi hành kỷ luật. Tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định khai trừ đảng viên thông báo bằng văn bản cho chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt và các tổ chức đảng nơi đảng viên đó là thành viên.

Trường hợp câu hỏi nêu, căn cứ vào quy định trên, đảng viên vi phạm bị tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt năm tháng tù nhưng cho hưởng án treo nhưng đảng viên đang kháng cáo theo quy định của pháp luật "án chưa có hiệu lực pháp luật". Do đó, vẫn phải tiếp tục đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên đó đến khi có bản án của tòa phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ bản án của tòa án để quyết định xử lý kỷ luật đối với đảng viên đó bằng hình thức thích hợp.

Câu hỏi 75: Chi bộ biểu quyết hình thức kỷ luật đối với đảng viên vi phạm, đảng viên đang bị xem xét, xử lý kỷ luật có được biểu quyết kỷ luật đối với mình không?

Trả lời:

Khoản 4, Điều 3, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên có quyền: trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình. Đảng viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng".

Khoản 1, Điều 39, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên vi phạm phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật".

Căn cứ các quy định trên, khi chi bộ biểu quyết về hình thức kỷ luật đối với mình, đảng viên chính thức là đối tượng xem xét kỷ luật cũng được quyền biểu quyết kỷ luật đối với mình. Còn đảng viên dự bị thì không được quyền biểu quyết kỷ luật khi chi bộ quyết định hình thức kỷ luật đối với mình.

Câu hỏi 76: Một bí thư chi bộ, đảng uỷ viên đảng ủy xã, vi phạm bị kỷ luật cách chức chi uỷ viên, cách chức đảng uỷ viên. Đảng uỷ xã đã tiến hành xử lý cách chức chi uỷ viên của đồng chí đó, sau đó làm thủ tục gửi lên ban thường vụ huyện uỷ đề nghị cách chức đảng uỷ viên đảng ủy xã. Ban thường vụ huyện uỷ xét kỷ luật căn cứ vào hồ sơ của đảng uỷ xã gửi lên và quyết định khai trừ ra khỏi Đảng đồng chí đó.

Về thủ tục, nguyên tắc và thẩm quyền xử lý kỷ luật như vậy đối với đảng viên đó có đúng không?

Trả lời:

Điểm 6.2 và Điểm 6.3, Khoản 6, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ (trừ Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm đến mức phải cách chức cấp uỷ viên cao nhất hoặc khai trừ thì do ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cấp uỷ cấp cao nhất mà đảng viên đó là thành viên quyết định. Nếu phải cách chức cấp uỷ viên ở một cấp uỷ cấp dưới thì do ban thường vụ cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định".

Đảng viên giữ nhiều chức vụ vi phạm kỷ luật phải cách chức một, một số hay tất cả các chức vụ hoặc phải khai trừ thì tổ chức đảng quản lý đảng viên đó quyết định".

Như vậy, căn cứ quy định trên trong trường hợp đã nêu, nếu đảng viên vi phạm chỉ đến mức cách chức chi uỷ viên thì đảng uỷ xã xem xét, quyết định. Nếu vi phạm đến mức phải cách chức cả chức chi ủy viên và chức đảng uỷ viên đảng ủy xã thì đảng uỷ xã xem xét, biểu quyết đề nghị cách chức các chức vụ đó (nhưng không ra quyết định) và gửi báo cáo đề nghị cùng hồ sơ vụ việc đó lên ủy ban kiểm tra huyện ủy để thẩm định và trình ban thường vụ huyện uỷ xem xét, quyết định kỷ luật theo thẩm quyền.

Căn cứ hồ sơ của đảng uỷ xã và kết quả thẩm định, đề nghị của ủy ban kiểm tra huyện ủy, ban thường vụ huyện uỷ căn cứ nội dung, tính chất, mức độ tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét quyết định kỷ luật theo thẩm quyền. Nếu thấy tính chất, mức độ vi phạm nghiêm trọng áp dụng hình thức cách chức là không đúng mức thì ban thường vụ huyện ủy quyết định khai trừ đảng viên đó ra khỏi Đảng.

Câu hỏi 77: Một đảng viên vi phạm phải xử lý kỷ luật khiển trách (thuộc thẩm quyền của chi bộ). Vậy, trước khi họp để xem xét, quyết định kỷ luật, đại diện chi bộ có phải nghe đảng viên đó trình bày ý kiến hay không, hay chỉ nghe chung trong cuộc họp chi bộ để xem xét quyết định kỷ luật?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy đinh về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên vi phạm phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét kỷ luật".

Điểm 3.1 và Điểm 3.2, Khoản 3 Điều 39 trong Hướng dẫn trên quy định:

"3.1- Trước khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền nghe đảng viên vi phạm hoặc đại diện tổ chức đảng vi phạm trình bày ý kiến và ý kiến này được báo cáo đầy đủ (kèm theo bản tự kiểm điểm) khi tổ chức đảng có thẩm quyền họp xem xét, quyết định kỷ luật.

3.2- Đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền là đại diện của cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp có thẩm quyền kỷ luật.

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên trước khi họp xét kỷ luật đảng viên vi phạm, đại diện chi bộ (đồng chí trong ban chi ủy) hoặc đồng chí bí thư, hoặc phó bí thư chi bộ (đối với chi bộ không có chi ủy) phải gặp đảng viên vi phạm để nghe trình bày ý kiến và ý kiến này được báo cáo đầy đủ trước chi bộ khi chi bộ họp xét kỷ luật. Khi chi bộ họp xét kỷ luật, đảng viên vi phạm phải trình bày kiểm điểm trước chi bộ và tự nhận hình thức kỷ luật đảng phù hợp với nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm.

Câu hỏi 78: Đảng viên tham gia đánh bạc bị công an bắt lập biên bản. Quá trình xem xét kỷ luật có hai ý kiến khác nhau:

- Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: Những đảng viên tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức bị bắt đều phải khai trừ ra khỏi Đảng.

- Loại ý kiến thứ hai cho rằng: Có thể áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xem xét đảng viên tham gia đánh bạc bị bắt.

Vậy, khi đảng viên tham gia đánh bạc bị công an bắt lập biên bản có nhất thiết phải xử lý bằng hình thức khai trừ không?

Trả lời:

Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 35 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc thi hành kỷ luật phải căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, quyết định hình thức kỷ luật cho phù hợp theo thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm trước quyết định đó".

Điều 17, Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, quy định đảng viên không được: "Tổ chức, tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức".

Điểm a, Khoản 2 Điều 2 trong Hướng dẫn số 11-HD/UBKTTW ngày 24-3-2008 của ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15-10-2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm quy định: "Về phương hướng xử lý phải được các cấp uỷ lãnh đạo chặt chẽ, thận trọng... Khai trừ những đảng viên suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống;… cờ bạc dưới mọi hình thức;.. ".

Như vậy, theo quy định trên thì đảng viên tham gia đánh bạc bị công an bắt lập biên bản là vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, vi phạm kỷ luật của Đảng, tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ vào nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, quyết định hình thức kỷ luật phù hợp theo thẩm quyền đối với đảng viên vi phạm và phải chịu trách nhiệm trước quyết định đó.

Câu hỏi 79: Đảng bộ B có ba quần chúng xin giấy chứng nhận bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng. Đồng chí A là phó giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện đã ký ba giấy chứng nhận không hợp pháp cho ba quần chúng nêu trên để được Đảng bộ B xem xét kết nạp vào Đảng. Vậy, các hành vi trên có vi phạm Khoản 2, Điều 21 Quy định số 181-QĐ/TW ngày 30-3-2013 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm không?

Trả lời:

Theo Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1996 thì chứng chỉ là giấy chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp. Như vậy, giấy chứng nhận học lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng là một loại chứng chỉ.

Điểm a và Điểm d, Khoản 2 Điều 21 Quy định số 181-QĐ/TW ngày 30-3-2013 của Bộ Chính tả về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm quy định:

"a) Xin, mua, sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp để lập hồ sơ. ..

d) Ký, cấp văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp cho người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện...".

Như vậy, theo quy định trên, nếu đúng ba quần chúng đó không dự học mà có hành vi xin giấy chứng nhận bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng và đã được đồng chí phó giám đốc trung tâm ký, cấp giấy chứng nhận cho ba quần chúng không đủ tiêu chuẩn, điều kiện để lập hồ sơ kết nạp vào Đảng là vi phạm kỷ luật của Đảng. Cần phải xem xét, xử lý đối với ba quần chúng xin giấy chứng nhận bồi dưỡng kết nạp Đảng và cả đồng chí phó giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện tùy theo tính chất, mức độ tác hại, nguyên nhân vi phạm và tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng.

Câu hỏi 80: Một đảng viên không giữ chức vụ đang sinh hoạt tại chi bộ quân sự xã vi phạm trong việc mua và sử dụng bằng tốt nghiệp phổ thông trung học không hợp pháp để đăng ký học lớp trung cấp luật. Chi bộ quân sự xã đã họp kiểm điểm và quyết định kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo. Có ý kiến cho rằng thẩm quyền ban hành quyết định kỷ luật trong trường hợp này là của ban chấp hành đảng bộ xã.

Vậy trường hợp vi phạm về mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp trên thuộc thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ quân sự xã hay của ban chấp hành đảng bộ xã ?

Trả lời:

Khoản 1, Điều 36 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Chi bộ quyết định khiển trách cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm  vụ do cấp trên giao)".

Như vậy, theo quy định trên thì đảng viên đang sinh hoạt tại chi bộ quân sự xã vi phạm trong việc mua và sử dụng bằng tốt nghiệp phổ thông trung học không hợp pháp là vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không phải vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao. Vì vậy, vi phạm này thuộc thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật của chi bộ quân sự xã.

Nguồn: http://dangcongsan.vn/