Phần thứ tư: Giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật Đảng
18:53:52 10/12/2014

Phần thứ tư

GIẢI QUYẾT TỐ CÁO, KHIẾU NẠI KỶ LUẬT ĐẢNG

Câu hỏi 81: Tố cáo là gì? Tố cáo trong Đảng là gì? Ai có quyền tố cáo?

Trả lời:

- Tố cáo là báo cáo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó1.

Tố cáo là quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 1992 của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 9 Luật tố cáo năm 2011 quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo.

- Tại Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân.

Trường hợp cơ quan, tổ chức cung cấp các thông tin, báo cáo cho tổ chức đảng, đảng viên có trách nhiệm về hành vi vi phạm của tổ chức đảng hoặc đảng viên thì không phải là tố cáo".

Khoản 3, Điều 3 Điều lệ Đảng quy định đảng viên có quyền "Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời".

Câu hỏi 82: Để giải quyết tố cáo được tốt, có những yêu cầu gì đối với người tố cáo và đối với đảng viên, tổ chức đảng bị tố cáo?

Trả lời:

Theo quy định tại Tiết 5.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương, để giải quyết tố cáo được tốt, yêu cầu đối với người tố cáo và đảng viên, tổ chức đảng bị tố cáo như sau:

- Người tố cáo phải trình bày trung thực sự việc, chịu trách nhiệm trước Đảng về nội dung tố cáo và bằng chứng của mình, ghi rõ họ tên, địa chỉ của mình để tổ chức đảng có thẩm quyền thẩm tra, xác minh và thông báo kết quả khi đã được xem xét, kết luận. Trường hợp tố cáo trực tiếp, yêu cầu người tố cáo viết lại bằng văn bản và ký tên. Nếu người tố cáo vì điều kiện nào đó mà không viết bằng văn bản được (trình độ văn hóa kém hoặc sức khỏe không cho phép) thì người trực tiếp nhận tố cáo bằng miệng phải ghi chép thành văn bản, đọc cho người tố cáo nghe và ký tên xác nhận.

Người tố cáo không được gửi hoặc phổ biến nội dung tố cáo, tên người bị tố cáo, nội dung làm việc với tổ chức, cá nhân giải quyết tố cáo, nội dung thông báo giải quyết tố cáo của tổ chức đảng có thẩm quyền cho những tổ chức hoặc cá nhân không có trách nhiệm giải quyết tố cáo.

- Đảng viên và tổ chức đảng bị tố cáo phải báo cáo, trình bày rõ, trung thực, đầy đủ, kịp thời những vấn đề bị tố cáo, tự giác nhận rõ sai lầm, khuyết điểm và có quyền sử dụng những bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo không đúng. Nếu thật sự có khuyết điểm, vi phạm thì phải tự giác kiểm điểm, không giấu giếm, quanh co, không được truy tìm, trấn áp, trù dập, trả thù người phê bình, tố cáo bằng bất kỳ hình thức nào.

Câu hỏi 83: Đơn tố cáo giấu tên, mạo tên có xem xét giải quyết không?

Trả lời:

Tiết 5.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Không giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ và những tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền do Điều lệ Đảng quy định xem xét, kết luận, nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ việc; những tố cáo có tên nhưng nội dung không cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra, xác minh; đơn tố cáo không phải bản do người tố cáo trực tiếp ký tên; đơn tố cáo có từ hai người trở lên cùng ký tên; đơn tố cáo của người không có năng lực hành vi dân sự".

Như vậy, theo quy định trên, tố cáo giấu tên, mạo tên không xem xét, giải quyết. Trường hợp nội dung đơn tố cáo giấu tên, mạo tên nêu được sự việc cụ thể, có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì ủy ban kiểm tra kết hợp với các thông tin khác quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Câu hỏi 84: Có ba đảng viên cùng nhau viết đơn không ký tên, tố cáo lãnh đạo của mình, chi bộ phát hiện ra ba đồng chí này qua bản thảo viết tay. Vậy, xử lý trường hợp này như thế nào?

Trả lời:

- Đây là trường hợp tố cáo giấu tên tố cáo lãnh đạo một đơn vị (cấp nào chưa rõ) nên cách xử lý như sau:

Việc giải quyết đơn tố cáo đối với đảng viên là lãnh đạo thuộc thẩm quyền của cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý đảng viên bị tố cáo, không phải thẩm quyền của chi bộ. Do đó, đơn tố cáo phải được chuyển lên cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý tổ chức đảng hoặc đảng viên bị tố cáo để xem xét, giải quyết.

Việc giải quyết tố cáo phải thực hiện đúng Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng khóa XI và Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương.

Trường hợp đối với đơn tố cáo giấu tên tổ chức đảng có thẩm quyền có thể kết hợp với các kênh thông tin khác để quyết định chuyển sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Sau khi kết luận, thấy có dụng ý xấu gây tổn hại nghiêm trọng cho Đảng Nhà nước nhất thiết phải xem xét, xử lý thì báo cáo cấp uỷ có thẩm quyền để chỉ đạo giải quyết tiếp.

- Việc xử lý kỷ luật người bị tố cáo hay người tố cáo là căn cứ vào nội dung tố cáo đúng, sai hoặc có dụng ý xấu. Do đó, đảng viên tố cáo có ký tên mà vu cáo gây tổn hại nghiêm trọng cũng phải thi hành kỷ luật. Ngược lại, đảng viên tố cáo giấu tên nhưng tố cáo đúng, có ý thức xây dựng, thì tuy không thực hiện đúng Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, phải phê bình nhắc nhở nhưng không phải xử lý kỷ luật.

- Trường hợp này, câu hỏi chưa nêu rõ đối tượng bị tố cáo do cấp uỷ cấp nào quản lý; vì sao chi bộ lại phát hiện được người tố cáo giấu tên, nội dung tố cáo đúng hay sai, việc xác minh, phát hiện người tố cáo giấu tên do ai chỉ đạo và tiến hành trước hay sau khi có kết luận giải quyết tố cáo. Do đó, căn cứ vào quy định của Đảng và nội dung trả lời như trên, chi bộ xem xét, xác định cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với đảng viên bị tố cáo để chuyển cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết tố cáo theo quy định của Đảng.

Câu hỏi 85: Một đảng viên có đơn tố cáo gửi đảng ủy cấp trên trực tiếp của chi bộ về những việc làm vi phạm Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước của đồng chí bí thư chi bộ, thủ trưởng cơ quan. Sau đó, đảng viên này nhận được công văn của đảng uỷ do đồng chí phó bí thư đảng ủy ký, với các nội dung sau:

- Yêu cầu phải có tài liệu, bằng chứng để chứng minh những nội dung tố cáo trước chi bộ và ủy ban kiểm tra đảng ủy để xem xét theo quy định của Điều lệ Đảng.

- Đảng viên (người tố cáo) tham gia họp công đoàn không đúng nguyên tắc, gửi đơn vượt cấp, trong viết bài phỏng vấn, đánh máy có sai sót nội dung. Vì vậy, phải có bản kiểm điểm trình bày trước hội nghị chi bộ để xem xét.

Vậy:

- Việc đảng viên tố cáo là đoàn viên công đoàn đã dự họp công đoàn do ban chấp hành công đoàn cơ quan triệu tập có đúng nguyên tắc không? Việc gửi đơn tố cáo của đồng chí này có vi phạm Điều lệ Đảng không?

Những điều đảng ủy yêu cầu như nêu trên có đúng với quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của Trung ương không? Nếu sai thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

- Điều 3, Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Đảng viên có quyền phê bình, chất vấn…". Tiết 5.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11- 2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên nhận được tố cáo phải bảo đảm bí mật cho người tố cáo và hướng dẫn người tố cáo thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước. Không để người bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo đối với mình. Không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo giải quyết tố cáo. Có biện pháp bảo vệ người tố cáo. Uỷ ban kiểm tra giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị cấp uỷ xử lý hay chỉ đạo xử lý nghiêm những trường hợp sợ trù dập, trả thù người tố cáo; cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết tố cáo; bao che những việc làm sai trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ tên người tố cáo cho đối tượng bị tố cáo biết, để lộ tên người tố cáo, nội dung tố cáo cho người không có trách nhiệm biết".

- Căn cứ các quy định trên và trường hợp câu hỏi nêu cho thấy:

Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong trường hợp này là của ủy ban kiểm tra đảng ủy hoặc đảng ủy cơ quan (cấp trên của chi bộ).

Việc đảng ủy yêu cầu đảng viên tố cáo trình bày bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo trước chi bộ (trước đảng viên bị tố cáo) là vi phạm quy định vì đã tiết lộ tên người tố cáo và sai quy trình giải quyết tố cáo.

Tổ chức Công đoàn do Đảng lãnh đạo, mọi đảng viên tham gia sinh hoạt công đoàn phải chấp hành Điều lệ Công đoàn. Do vậy, khi ban chấp hành công đoàn triệu tập hội nghị, đoàn viên có trách nhiệm tham gia sinh hoạt và đóng góp ý kiến. Đó là việc làm không sai nguyên tắc của Đảng.

Việc đảng viên gửi đơn tố cáo đến cấp có thẩm quyền (đồng chí bí thư chi bộ thuộc đảng ủy cơ quan quản lý) là đúng quy định, vì đảng viên có quyền phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở một cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời. Mặt khác, không có quy định nào của Đảng hạn chế việc gửi đơn kiến nghị, phản ánh lên cấp trên.

Như vậy, những nội dung trong công văn của đảng ủy gửi cho đảng viên là không đúng, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, vi phạm Điều lệ Đảng và các hướng dẫn của Trung ương. Tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên cần phải tiến hành xem xét xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân có khuyết điểm, vi phạm.

Câu hỏi 86: Một số cán bộ cơ sở thuộc diện cấp trên quản lý, có dấu hiệu vi phạm Điều lệ Đảng, đảng viên đã có đơn kiến nghị lên cấp có thẩm quyền biết để xem xét. Sau khi nhận được đơn của đảng viên, cấp ủy có thẩm quyền lại cho đây là đơn tố cáo và giao cho một đồng chí trong số cán bộ nêu trên chủ trì giải quyết. Việc làm đó đúng hay sai? Nếu sai xử lý như thế nào?

Trả lời:

Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân".

Như vậy, nội dung đơn kiến nghị nêu trên được coi là nội dung tố cáo đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng và phải tiến hành xem xét tố cáo là đúng.

- Tiết 5.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn trên quy định: "Tổ chức đảng, đảng viên được tố cáo phải bảo đảm bí mật cho người tố cáo và hướng dẫn người tố cáo thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước. Không để người bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo đối với mình. Không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo giải quyết tố cáo. Có biện pháp bảo vệ người tố cáo. Uỷ ban kiểm tra giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị cấp uỷ xử lý hay chỉ đạo xử lý nghiêm những trường hợp sau: trù dập, trả thù người tố cáo; cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết tố cáo; bao che những việc làm sái trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ tên người tố cáo cho đối tượng bị tố cáo biết, để lộ tên người tố cáo, nội dung tố cáo cho người không có trách nhiệm biết; lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu cáo, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác".

- Căn cứ vào Hướng dẫn trên thì trường hợp như câu hỏi nêu, việc cấp ủy có thẩm quyền sau khi nhận được đơn tố cáo của đảng viên lại giao cho người bị tố cáo đứng ra chủ trì giải quyết là sai quy định của Đảng. Tổ chức đảng có thẩm quyền cần phải xem xét, xử lý nghiêm minh tổ chức đảng, đảng viên có sai phạm quy định về giải quyết tố cáo trong Đảng bằng hình thức thích hợp.

Câu hỏi 87: Đảng viên viết thư tố cáo những hành vi vi phạm của tổ chức đảng hoặc đảng viên ở cơ sở với cấp trên, nhưng không thông qua lãnh đạo cơ sở, như vậy có đúng không?

Trả lời:

Khoản 3, Điều 3, Điều lệ Đảng khóa XI quy định:  "Đảng viên có quyền: phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời".

Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm ra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định:

"Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về vi phạm của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân".

"Người tố cáo phải trình bày trung thực sự việc, ghi rõ họ, tên, địa chỉ, chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo và bằng chứng của mình. Nếu phản ánh trực tiếp thì phải được ghi lại thành văn bản, người tố cáo phải ký tên chịu trách nhiệm vào văn bản. Không được gửi hoặc phổ biến nội dung tố cáo, tên người bị tố cáo, nội dung làm việc với tổ chức, cá nhân giải quyết tố cáo, nội dung thông báo giải quyết tố cáo của tổ chức đảng có thẩm quyền cho những tổ chức hoặc cá nhân không có trách nhiệm".

Như vậy, theo các quy định trên, đảng viên có quyền viết đơn tố cáo những hành vi vi phạm của tổ chức, cán bộ, đảng viên trong đơn vị mình với cơ quan lãnh đạo cấp trên, không bắt buộc phải thông qua đảng ủy cơ sở. Tuy nhiên, để nêu cao tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình nhằm xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh thì những vấn đề liên quan đến trách nhiệm giải quyết của cấp ủy cơ sở nơi mình sinh hoạt, đảng viên đó nên báo cáo đề xuất ý kiến của mình với cấp ủy cơ sở trước để đề nghị xem xét, giải quyết. Nếu thấy cấp ủy cơ sở không giải quyết giải quyết không có hiệu quả hoặc có biểu hiện bao che thì mới gửi đơn lên cấp trên để đề nghị giải quyết.

Câu hỏi 88: Đại hội đảng bộ xã tiến hành bầu đảng ủy khoá mới, sau khi kiểm phiếu, ban kiểm phiếu công bố kết quả bỏ phiếu và danh sách 13 đồng chí trúng cử đảng ủy với đại hội. Đại hội không có ý kiến. Ban kiểm phiếu niêm phong phiếu và giao cho đoàn chủ tịch, đồng chí thường trực đảng ủy và là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra đảng ủy khóa mới quản lý trong 3 ngày, sau đó đồng chí phụ trách văn phòng đảng ủy lấy về, lấy lý do là để quản lý cùng với tài liệu của đại hội.

Sau 4 ngày, ủy ban kiểm tra của huyện ủy nhận được đơn tố cáo về kết quả bầu cử ban chấp hành khóa mới của một đảng viên. Ủy ban kiểm tra huyện ủy thành lập tổ công tác tiến hành giải quyết đơn. Khi đồng chí phụ trách văn phòng đảng ủy mang gói phiếu ra để kiểm tra thì tổ công tác và 9 đồng chí trong ban kiểm phiếu cùng 3 đồng chí đại diện đoàn chủ tịch đại hội phát hiện gói phiếu bị mất niêm phong. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, không kiểm lại phiếu mà niêm phong gói phiếu lại để xin ý kiến giải quyết tiếp. Người đứng đơn yêu cầu trả lời đơn về kết quả kiểm phiếu lại.

Có hai ý kiến khác nhau:

1. Tiến hành kiểm phiếu lại, nếu kết quả kiểm phiếu khác với kết quả đã công bố trước đại hội thì tiến hành đại hội để bầu ban chấp hành. Chưa tiến hành phân công nhiệm vụ cho số đồng chí đã trúng cử ban chấp hành khóa mới.

2. Không tiến hành kiểm phiếu lại, với lý do là ban kiểm phiếu đã cam kết trách nhiệm về kết quả bầu cử đã công bố trước đại hội và gói phiếu đã mất niêm phong.

Vậy, nên giải quyết thế nào để bảo đảm các nguyên tắc, quy định của Đảng và trả lời người đứng đơn?

Trả lời:

Khoản 2, Điều 12, Quyết định số 220-QĐ/TW ngày 17-4-2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về việc ban hành Quy chế bầu cử trong Đảng quy định ban kiểm phiếu có nhiệm vụ: "Lập biên bản kiểm phiếu; báo cáo với đoàn chủ tịch, công bố kết quả bầu cử và ký vào biên bản bầu cử, niêm phong phiếu bầu và chuyển cho đoàn chủ tịch đại hội để đoàn chủ tịch đại hội bàn giao cho cấp uỷ khóa mới lưu trữ theo quy định".

Khoản 1, Điều 30, Chương VII của Quy chế trên cũng chỉ rõ: "Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bế mạc đại hội, nếu có đơn, thư khiếu nại về bầu cử, thì ủy ban kiểm tra của cấp ủy cấp trên trực tiếp có trách nhiệm kiểm tra lại và báo cáo cấp ủy cùng cấp xem xét, quyết định".

Cũng trong Quy chế này, tại Điều 32 quy định: "Phiếu bầu cử được ban kiểm phiếu niêm phong và chuyển cho ban tổ chức của cấp ủy cung cấp (chuyển cho chi ủy nếu  bầu cử trong chi bộ) để lưu trữ trong thời hạn 6 tháng. Trong thời gian này, nếu không có quyết định của ban thường vụ cấp uỷ (chi uỷ), không ai được tự ý mở niêm phong. Quá 6 tháng, nếu không có khiếu nại, tố cáo về kết quả bầu cử, ban thường vụ cấp uỷ quyết định cho huỷ số phiếu đó".

- Trường hợp đã nêu trên căn cứ vào các quy định trên, huyện ủy cần xem xét, kết luận về vụ việc này để trả lời cho tổ chức đảng cấp dưới và người khiếu nại biết.

Riêng phiếu bầu cử được ban kiểm phiếu niêm phong nhưng không chuyển cho ban tổ chức của cấp ủy cùng cấp lưu trữ theo quy định mà chuyển cho đồng chí thường trực đảng ủy khóa mới và đồng chí thường trực lại tự ý chuyển cho đồng chí phụ trách văn phòng đảng ủy giữ phiếu sau bầu cử ban chấp hành khóa mới là không đúng quy định. Huyện ủy phải tiến hành xem xét và có kết luận đầy đủ về việc vi phạm nói trên, giải quyết dứt điểm vướng mắc cho cơ sở, đồng thời phải xem xét xử lý kỷ luật nghiêm khắc cán bộ, đảng viên có liên quan đến vụ việc, trước hết là đồng chí phụ trách văn phòng cấp ủy, người không có thẩm quyền quản lý phiếu bầu theo quy định. Trường hợp phát hiện đồng chí bị khiếu nại có vi phạm cũng phải được xem xét, xử lý theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, Quy chế bầu cử trong Đảng và thông báo cho người có đơn tố cáo biết bằng hình thức thích hợp.

Câu hỏi 89: Một đảng viên thuộc đảng bộ xã gửi đơn tố cáo lên ban thường vụ huyện uỷ và ủy ban kiểm tra huyện ủy về một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của xã vi phạm trong việc cấp đất và đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng khu công nghiệp. Nhưng đơn tố cáo đó lại được chuyển, giao cho đảng ủy xã xem xét, giải quyết. Sau đó, đảng viên đó được thường trực đảng ủy và ủy ban kiểm tra đảng ủy xã mời lên làm việc và yêu cầu phải làm bản kiểm điểm về việc đã viết đơn tố cáo lãnh đạo xã mà không báo cáo với ban thường vụ và ủy ban kiểm tra đảng ủy xã; tự nhận hình thức kỷ luật về việc làm vô kỷ luật trên.

Vậy, việc đảng viên làm đơn tố cáo gửi lên cấp giải quyết như trên có đúng quy định của Điều lệ Đảng không? Cấp huyện gửi đơn tố cáo về cho cấp xã giải quyết như trên có đúng quy định không? Nếu sai thì thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

Khoản 3, Điều 3, Điều lệ Đảng khóa XI quy định đảng viên có quyền: "Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên ở một cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời".

Tiết 2.2.2, Điểm 2.2, Khoản 2, Điều 30 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát kỷ luật Đảng trong Chương VII, Chương VIII Điều lệ Đảng ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định: Cấp ủy các cấp có nhiệm vụ: "Thực hiện giải quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng và tiến hành các nhiệm vụ kiểm tra khi cần thiết".

Tiết 1.1.1, Điểm 5.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn trên quy định: "Ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp ủy cùng cấp.

Tổ chức đảng và đảng viên nhận được tố cáo phải bảo đảm bí mật cho người tố cáo và hướng dẫn người tố cáo thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước. Không để người bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo đối với mình. Không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo giải quyết tố cáo. Có biện pháp bảo vệ người t cáo. Ủy ban kiểm tra giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị cấp ủy xử lý hay chỉ đạo xử lý nghiêm mà những trường hợp sau: trù dập, trả thù người tố cáo; cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết tố cáo; bao che những việc làm sai trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ tên người tố cáo cho đối tượng tố cáo biết, để lộ tên người tố cáo, nội dung tố cáo cho người không có trách nhiệm biết; lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu cáo, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác".

Căn cứ các quy định trên thì việc đảng viên gửi đơn tố cáo đến ban thường vụ huyện ủy và ủy ban kiểm tra huyện ủy là đúng quy định của Điều lệ Đảng và Hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương. Người tố cáo không phải báo cáo với tổ chức đảng nơi mình sinh hoạt và có quyền gửi đơn đến tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết; không có quy định nào của Đảng là trước khi gửi đơn tố cáo, phản ánh kiến nghị đảng viên phải báo cáo với chi bộ, cấp ủy cơ sở và ủy ban kiểm tra nơi sinh hoạt. Đây là một quy định để phát huy dân chủ trong Đảng, bảo đảm quyền của đảng viên và đã được quy định trong Điều lệ Đảng.

Đối tượng bị tố cáo theo nội dung câu hỏi nêu là cán bộ chủ chốt trong tổ chức đảng cơ sở thuộc diện huyện ủy quản lý, vì vậy ban thường vụ hoặc ủy ban kiểm tra huyện ủy có trách nhiệm xem xét, giải quyết và bảo vệ bí mật cho người tố cáo. Cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo lại chuyển đơn của đảng viên tố cáo về cho ban thường vụ đảng ủy và ủy ban kiểm tra đảng ủy xã giải quyết là sai, vi phạm các quy định của Điều lệ Đảng; không giải quyết đúng thẩm quyền, tiết lộ tên người tố cáo để người bị tố cáo giải quyết tố cáo đối với mình dẫn đến hiện tượng trù dập người tố cáo. Do đó, ban thường vụ huyện ủy, ủy ban kiểm tra huyện ủy phải kiểm tra dấu hiệu vi phạm của những tổ chức và cá nhân có liên quan trong việc giải quyết này để có kết luận và xử lý nghiêm minh các vi phạm nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

Câu hỏi 90: Đồng chí A bị khai trừ ra khỏi Đảng, có khiếu nại lên cấp trên. Khi xem xét, giải quyết, cấp trên phát hiện đồng chí này còn có một số vi phạm nữa nhưng chưa được xem xét xử lý. Vậy, có xem xét những vi phạm mới phát hiện này cùng với việc xem xét lại những vi phạm đã bị thi hành kỷ luật trong quy trình xem xét khiếu nại kỷ luật của đồng chí A hay không?

Trả lời:

Tiết 5.2.2, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Trong quá trình giải quyết, nếu phát hiện đảng viên khiếu nại có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn tố cáo thì cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem xét, quyết định".

Như vậy, theo quy định trên thì khi giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, nói chung chỉ giải quyết những nội dung của kỷ luật đảng mà đối tượng bị kỷ luật có khiếu nại. Nếu qua xem xét những vi phạm đã nêu trong quyết định kỷ luật nhận thấy việc áp dụng hình thức kỷ luật khai trừ là thỏa đáng, thì không cần phải đi sâu xem xét những vấn đề mới phát hiện.

Trường hợp xét thấy việc vi phạm của đảng viên A (nêu trong quyết định kỷ luật) chưa đến mức phải khai trừ, thì có thể xem xét cả những vi phạm mới được phát hiện và việc giữ gìn tư cách từ sau khi bị thi hành kỷ luật khai trừ của đồng chí A đến thời điểm phải giải quyết khiếu nại kỷ luật để làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để có căn cứ, cơ sở quyết định giảm hay không giảm hình thức kỷ luật cho đồng chí đó.

Câu hỏi 91: Đồng chí H bị chi bộ thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, đã khiếu nại vượt cấp lên đảng ủy cấp trên trực tiếp của đảng ủy cơ sở. Đảng ủy cơ sở mời đồng chí H đến làm việc, có đồng chí phó bí thư đảng ủy khối dự để bàn việc giải quyết khiếu nại nhưng đồng chí H không đến vì cho rằng mình không khiếu nại với đảng ủy cơ sở. Sau đó, lại đề nghị đảng ủy khối giải quyết khiếu nại.

Vậy, đảng ủy khối có giải quyết khiếu nại không?

Trả lời:

Tiết 5.2.1, Điểm 5.2.1, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Việc giải quyết nhiệm vụ kỷ luật của đảng viên phải tiến hành từ uỷ ban kiểm tra hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng để quyết định xử lý kỷ luật... Đảng viên bị kỷ luật không đồng ý với quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật được khiếu nại lên tổ chức đảng cấp trên cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương".

Điểm 8.5, Khoản 8, Điều 38 trong Hướng dẫn trên quy định: "Tổ chức đảng khi nhận được khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chuyển cho tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết đồng thời báo cho người khiếu nại biết".

Như vậy, trường hợp câu hỏi nêu, đảng ủy khối khi nhận được khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết thì phải chuyển đơn khiếu nại để đảng ủy cơ sở xem xét, giải quyết theo quy định, báo cáo người khiếu nại biết và yêu cầu chấp hành đúng quy định của Đảng về khiếu nại và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng

Câu hỏi 92: Những khiếu nại nào không thuộc trách nhiệm giải quyết của ủy ban kiểm tra Đảng?

Trả lời:

Tiết 5.2.2, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Uỷ ban kiểm tra cấp trên chỉ giải quyết khiếu nại kỷ luật do tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp đã quyết định kỷ luật hoặc đã quyết định giải quyết khiếu nại".

Như vậy, theo quy định trên thì ủy ban kiểm tra Đảng chỉ giải quyết những khiếu nại kỷ luật trong Đảng. Những khiếu nại kỷ luật do các cơ quan nhà nước quyết định khiếu nại về lịch sử chính trị, tính tuổi đảng, xử lý đảng tịch, xóa tên trong danh sách đảng viên, đề bạt… thì ủy ban kiểm tra Đảng chuyển cho cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết, đồng thời báo cho người khiếu nại biết. Cơ quan chức năng sau khi giải quyết, phải thông báo kết quả cho ủy ban kiểm tra đã chuyển đơn khiếu nại.

Câu hỏi 93: Những đơn khiếu nại nào về kỷ luật đảng mà ủy ban kiểm tra các cấp không giải quyết?

Trả lời:

Theo quy định tại Tiết 5.2.2, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 và Khoản 7, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương thì những đơn khiếu nại kỷ luật trong Đảng, ủy ban kiểm tra không xem xét giải quyết gồm có:

- Đơn khiếu nại quá thời hạn (30 ngày làm việc).

- Đang được cấp trên có thẩm quyền giải quyết.

- Đơn khiếu nại đã được Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương giải quyết theo quy định là cấp giải quyết cuối cùng.

- Đơn khiếu nại của đảng viên bị tòa án xử phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên nhưng chưa được tòa án có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ bản án.

- Đơn khiếu nại không phải của người hoặc tổ chức bị thi hành kỷ luật về Đảng trực tiếp khiếu nại (khiếu nại hộ).

- Khiếu nại khi chưa nhận được quyết định kỷ luật bằng văn bản của tổ chức đảng có thẩm quyền.

Trường hợp đảng viên bị thi hành kỷ luật có khiếu nại, chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết mà đã qua đời, nếu thân nhân (cha, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột) của đảng viên đó đề nghị cho biết kết quả thì thông báo kết quả giải quyết cho tổ chức đảng nơi cư trú và thân nhân người khiếu nại biết.

Câu hỏi 94: Đảng viên hoặc tổ chức đảng bị xử lý kỷ luật thực hiện quyền khiếu nại về kỷ luật như thế nào và trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại có phải chấp hành quyết định kỷ luật đã ban hành không?

Trả lời:

Khoản 7, Khoản 9, Điều 39, Điều lệ Đảng quy định:

"Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương. Việc giải quyết khiếu nại kỷ luật, thực hiện theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương".

"Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật".

Như vậy, theo các quy định trên, đảng viên hoặc tổ chức đảng bị xử lý kỷ luật không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng (30 ngày làm việc), kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương. Trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng hoặc đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật đã ban hành theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

Câu hỏi 95: Theo quy định của Điều lệ Đảng, nếu đảng viên và tổ chức đảng không đồng ý với quyết định kỷ luật "có quyền khiếu nại với cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương". Vậy đảng viên hoặc chi bộ, đảng ủy cơ sở bị thi hành kỷ luật thì có được khiếu nại thẳng lên Ban Chấp hành Trung ương không?

Trả lời:

Khoản 7, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định:

"Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương. Việc giải quyết khiếu nại kỷ luật, thực hiện theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

7.1- Việc giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng được tiến hành từ uỷ ban kiểm tra hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng để quyết định thi hành kỷ luật. Sau khi được giải quyết, nếu đảng viên hoặc tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật không đồng ý, có khiếu nại tiếp thì tổ chức đảng cấp trên tiếp tục giải quyết cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương.

Như vậy, Điều lệ Đảng và Hướng dẫn trên quy định tổ chức đảng và đảng viên bị thi hành kỷ luật có quyền khiếu nại đến Ban Chấp hành Trung ương là thể hiện tính nghiêm minh và dân chủ cao trong việc thi hành kỷ luật đảng. Điều đó không có nghĩa là đảng viên hoặc chi bộ, đảng ủy cơ sở bị thi hành kỷ luật nếu không đồng ý thì khiếu nại thẳng lên Ban Chấp hành Trung ương ngay, mà phải tiến hành từ cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật. Sau đó, nếu đảng viên hoặc tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại ấy thì được tiếp tục khiếu nại lên tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên, lần lượt cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương.

Trường hợp nhận được đơn khiếu nại vượt cấp, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra chuyển cho tổ chức đảng có thẩm quyền cấp dưới giải quyết, đồng thời báo cho đảng viên hoặc tổ chức đảng khiếu nại biết việc chuyển đơn khiếu nại ấy.

Câu hỏi 96: Đảng viên bị thi hành kỷ luật mới nhận quyết định được 10 ngày, đang viết đơn khiếu nại kỷ luật thì qua đời đột ngột vì bị tai nạn. Gia đình làm đơn khiếu nại hộ và gửi cả đơn khiếu nại kỷ luật đảng viết dở của đồng chí đó. Trường hợp này xử lý như thế nào?

Trả lời:

Tiết 5.2.2, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên bị kỷ luật có khiếu nại chưa được giải quyết đã qua đời thì tổ chức đảng vẫn phải xem xét, giải quyết; nếu thân nhân (cha, mẹ, vợ, hoặc chồng, con, anh, chị, em ruột) đề nghị cho biết kết quả thì thông báo kết quả giải quyết khiếu nại cho tổ chức đảng nơi cư trú và thân nhân người đó biết".

Trường hợp như câu hỏi đã nêu, tuy đơn khiếu nại của đảng viên chưa viết xong, mà đã đột ngột qua đời nhưng đã thể hiện ý chí và quyền yêu cầu được giải quyết khiếu nại của đảng viên đó. Do vậy, tổ chức đảng có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện giải quyết khiếu nại đúng theo quy định trên của Đảng và thông báo cho thân nhân của đảng viên đó biết kết quả giải quyết

Câu hỏi 97: Đảng viên bị đảng ủy xã thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách, có khiếu nại và được ủy ban kiểm tra huyện ủy quyết định xóa bỏ hình thức kỷ luật đó. Đảng ủy xã không đồng tình với quyết định này của ủy ban kiểm tra huyện ủy thì làm thế nào? Có được báo cáo tỉnh ủy hay không?

Trả lời:

Điểm 1.3, Khoản 1, Điều 30 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng... Chấp hành nghiêm chỉnh Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát, các quyết định, kết luận, yêu cầu của chủ thể kiểm tra, giám sát".

Mặt khác, theo quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra do cấp ủy các cấp quyết định ban hành cũng nêu rõ trong trường hợp tổ chức đảng cấp dưới còn có ý kiến khác với ủy ban kiểm tra cấp trên thì được quyền báo cáo với ban thường vụ cấp ủy cấp trên xem xét, quyết định.

Như vậy, trước hết đảng ủy xã phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại của ủy ban kiểm tra huyện ủy. Nếu thấy cần thiết, đảng ủy xã được quyền báo cáo để ban thường vụ huyện ủy xem xét, quyết định. Trong thời gian ban thường vụ huyện ủy chưa có ý kiến thì đảng ủy đã phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật của ủy ban kiểm tra huyện ủy.

Câu hỏi 98: Đảng viên B có vi phạm bị ủy ban kiểm tra huyện ủy thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng. Đảng viên B đã có đơn khiếu nại kỷ luật gửi lần lượt nên ban thường vụ huyện ủy và ủy ban kiểm tra tỉnh ủy. Sau khi giải quyết, ủy ban kiểm tra tỉnh ủy đã quyết định giảm hình thức kỷ luật từ khai trừ xuống cảnh cáo đối với đảng viên B. Nhưng trong quyết định giải quyết khiếu nại có ghi: Tuổi đảng của đảng viên B được tính trong thời gian có quyết định khai trừ của ủy ban kiểm tra huyện ủy.

Việc tính tuổi đảng như trên có đúng không?

Trả lời:

- Sau khi đảng viên B nhận được quyết định thi hành kỷ luật khai trừ của ủy ban kiểm tra huyện ủy, đảng viên B có đơn khiếu nại lần lượt như trên là đúng quy định của Điều lệ Đảng.

Trong quá trình chờ quyết định giải quyết khiếu nại của ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, đảng viên B phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định của ủy ban kiểm tra và ban thường vụ huyện ủy.

Quyết định giải quyết khiếu nại của ủy ban kiểm tra tỉnh ủy chứng tỏ việc thi hành kỷ luật của ủy ban kiểm tra huyện ủy và quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật của ban thường vụ huyện ủy đối với đảng viên B là chưa chính xác, nghĩa là đảng viên B có vi phạm phải thi hành kỷ luật, nhưng chưa đến mức phải khai trừ.

- Trường hợp này, việc tính tuổi đảng thực hiện theo Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 05-01-2012 của Ban Bí thư về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng khóa XI như sau: "Đối với những người bị đưa ra khỏi Đảng đã được cấp có thẩm quyền thẩm tra, xác minh, kết luận là bị oan, sai và từ khi đưa ra khỏi Đảng đến nay không vi phạm tư cách đảng viên, được khôi phục quyền đảng viên thì tuổi đảng được tính liên tục.

Câu hỏi 99: Sau khi nhận được quyết định kỷ luật cảnh cáo của đảng ủy xã, đồng chí B đã làm đơn khiếu nại gửi đảng ủy xã đề nghị xem xét lại hình thức kỷ luật đối với mình. Đảng ủy xã đã xem xét và quyết định giảm hình thức kỷ luật xuống khiển trách đối với đồng chí B.

Trong trường hợp này, đảng ủy xã có phải ra thêm quyết định nữa không?

Trả lời:

Tiết 5.2.1, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Sau khi công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật mà đảng viên bị kỷ luật khiếu nại trực tiếp đến cấp mình thì uỷ ban kiểm tra chủ động xem xét lại, nếu thấy quyết định không đúng mức thì thay đổi cho phù hợp".

- Căn cứ vào quy định trên thì khi đảng ủy xã xem xét, quyết định giảm hình thức kỷ luật từ cảnh cáo xuống khiển trách phải có quyết định mới thay cho quyết định kỷ luật đã công bố để bảo đảm tính thời hiệu, tính pháp lý và hiệu lực của quyết định.

Câu hỏi 100: Ủy ban kiểm tra nhận được một số đơn khiếu nại kỷ luật do các cơ quan nhà nước quyết định và khiếu nại về đảng tịch, đề bạt... Những trường hợp khiếu nại này, ủy ban kiểm tra có giải quyết không? Nếu không giải quyết thì phải làm gì?

Trả lời:

- Tiết 5.2.3, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đơn khiếu nại về xử lý hành chính, lịch sử chính trị, tuổi đảng, xoá tên trong danh sách đảng viên thì chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết và báo cho người khiếu nại biết".

- Ủy ban kiểm tra của cấp ủy là cơ quan tham mưu, giúp việc cho cấp ủy, thực hiện các nhiệm vụ do cấp ủy quy định. Vì vậy, ủy ban kiểm tra chỉ giải quyết những khiếu nại kỷ luật trong Đảng, còn những khiếu nại kỷ luật do cơ quan nhà nước quyết định hoặc khiếu nại về xử lý đảng tịch, đề bạt... thì ủy ban kiểm tra chuyển cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét về kỷ luật chính quyền; chuyển ban tổ chức có thẩm quyền xem xét về đảng tịch, đề bạt,… đồng thời, báo cho người khiếu nại biết. Ủy ban kiểm tra phải theo dõi kết quả giải quyết khiếu nại đó. Cơ quan chức năng sau khi giải quyết khiếu nại nói trên phải có trách nhiệm trả lời kết quả giải quyết khiếu nại cho đối tượng khiếu nại và thông báo kết quả cho ủy ban kiểm tra biết.

Câu hỏi 101: Về thời hạn khiếu nại kỷ luật đảng, tại Khoản 7, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên...". Nhưng Tiết 50.8, Điểm 50 Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng quy định: "Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau đây: Quá thời hạn 30 ngày làm việc...".

Như vậy, khi xem xét về thời hạn giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng thì thực hiện theo quy định nào, nên áp dụng quy định "một tháng" hay "30 ngày làm việc"?

Trả lời:

- Khoản 7, Điều 39 Điều lệ Đảng khóa XI quy định: "Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương".

Khoản 7, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đang khoá XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương (gọi tắt là Hướng dẫn 46) quy định: "Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương".

Các quy định trên đều là quy định của Điều lệ Đảng. Tuy nhiên, "một tháng" theo dương lịch số ngày trong tháng chưa thật rõ và cụ thể (vì có tháng 30 ngày, có tháng 31 ngày, có tháng 29 ngày cá biệt có tháng chỉ có 28 ngày); mặt khác cần bảo đảm quyền lợi và tạo điều kiện tốt nhất cho đảng viên khiếu nại, Ban Chấp hành Trung ương quy định cụ thể để thống nhất thời hạn khiếu nại như sau:

- Tiết 50.8, Điểm 50 Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng (gọi tắt là Quy định 45) quy định: "Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau đây: Quá thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức đảng, đảng viên vi phạm được tổ chức đảng có thẩm quyền công bố quyết định kỷ luật …".

Tiết 5.2.1, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn 46 cũng quy định: "Thời hạn khiếu nại trong vòng 30 ngày làm việc".

Như vậy, Điều lệ Đảng quy định thời hạn giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng là một tháng, còn trong Quy định 45 và trong Hướng dẫn 46 thì quy định thời hạn giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng là "30 ngày làm việc" là hướng dẫn cụ thể thi hành Điều lệ Đảng, theo hướng tạo điều kiện có lợi cho người khiếu nại nên không trái với quy định của Điều lệ Đảng. Do đó, khi xem xét, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng thống nhất thực hiện thời hạn khiếu nại là "30 ngày làm việc".

Câu hỏi 102: Đồng chí M là bí thư chi bộ, bị đảng ủy xã thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức. Đồng chí M yêu cầu đảng ủy xã sao gửi cho mình toàn bộ hồ sơ kỷ luật, nhưng không được giải quyết nên đồng chí khiếu nại và đề nghị các cấp giải quyết yêu cầu của mình và tố cáo đảng ủy xã vi phạm quyền dân chủ của đảng viên.

Việc làm đó của đồng chí M đúng hay sai?

Trả lời:

Đồng chí M bị thi hành kỷ luật cách chức, nhưng không khiếu nại về kỷ luật đảng mà lại yêu cầu tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật phải sao hồ sơ kỷ luật cho mình, khi không được đảng ủy xã giải quyết, đồng chí M lại khiếu nại và đề nghị các cấp giải quyết yêu cầu của mình và tố cáo đảng ủy xã vi phạm quyền dân chủ của đảng viên là không đúng quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng. Vì theo quy định của Điều lệ Đảng và Hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện các quy định về công tác kiểm tra giám sát, kỷ luật đảng, về nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật trong Đảng và quyền của đảng viên đều không quy định đảng viên được quyền nhận lại bản sao chụp hồ sơ kỷ luật của mình. Mặt khác, hồ sơ kỷ luật của Đảng là tài liệu mật, được bảo quản và sử dụng theo quy định của Đảng, không được sao chụp để gửi cho tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền quản lý.

Việc làm của cấp ủy và tổ chức đảng các cấp như câu hỏi nêu là đúng, không vi phạm quyền dân chủ của đảng viên. Các tổ chức đảng có thẩm quyền cần giải thích rõ để đồng chí M hiểu đúng các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và chấp hành nghiêm chỉnh.

Câu hỏi 103: Khi đảng viên bị thi hành kỷ luật có khiếu nại và đã được ủy ban Kiểm tra Trung ương giải quyết. Chi bộ có quyền phản ánh, báo cáo những nội dung khác so với kết luận của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương lên Ban Bí thư để Ban Bí thư giải quyết hay không?

Trả lời:

Tiết 5.2.1 và Tiết 5.2.2, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định:

"Đảng viên bị kỷ luật không đồng ý với quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật được khiếu nại lên tổ chức đảng cấp trên cho đến Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương. Thời hạn khiếu nại trong vòng 30 ngày làm việc, tính từ ngày đảng viên vi phạm được tổ chức đảng có thẩm quyền công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật (căn cứ biên bản công bố đến ngày đảng viên bị kỷ luật gửi đơn khiếu nại trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện".

"Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau: quá thời hạn 30 ngày làm việc; đang được cấp trên có thẩm quyền giải quyết; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luật;…khiếu nại hộ; khiếu nại khi chưa nhận được quyết định kỷ luật bằng văn bản của tổ chức đảng có thẩm quyền".

Như vậy, sau khi ủy ban Kiểm tra Trung ương có quyết định giải quyết thiếu nại kỷ luật, nếu không đồng ý đảng viên X có quyền khiếu nại tiếp lên Ban Bí thư Trung ương Đảng. Chi bộ, đảng ủy không có quyền khiếu nại hộ cho đảng viên X.

Câu hỏi 104: Đảng viên A sinh hoạt tại chi bộ B, vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Qua xem xét, Ban Thường vụ Thành ủy Q đã tiến hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng, đồng chí A khiếu nại lên ủy ban kiểm tra tỉnh ủy. Trong báo cáo giải quyết khiếu nại, tổ kiểm tra ghi: Báo cáo giải quyết khiếu nại kỷ luật đối với đồng chí A, nguyên đảng viên sinh hoạt tại chi bộ B. Như vậy, việc dùng cụm từ "nguyên đảng viên" là đúng hay sai, nếu sai thì sửa lại thế nào?

Trả lời:

Khoản 9, Điều 39 Điều lệ Đảng quy định: "Trong khi chờ giải quyết khiếu nại tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật".

Như vậy, đảng viên A bị khai trừ ra khỏi Đảng, về nguyên tắc, khi chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định thay đổi hình thức kỷ luật thì không còn là đảng viên của Đảng. Do vậy, khi giải quyết thiếu nại, tổ kiểm tra của ủy ban kiểm ra tỉnh ủy dùng cụm từ "nguyên đảng viên" trong báo cáo giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng đối với đồng chí A và đúng.

Câu hỏi 105: Một đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật cảnh cáo, sau đó đảng viên có khiếu nại. Tổ chức đảng có thẩm quyền đã giải quyết khiếu nại, quyết định giảm hình thức kỷ luật từ cảnh cáo xuống khiển trách.

Vậy thời gian chấm dứt hiệu lực của quyết định kỷ luật tính từ khi đảng viên đó bị xử lý kỷ luật cảnh cáo hay tính từ khi có quyết định giam từ hình thức kỷ luật cảnh cáo xuống khiển trách?

Trả lời:

Điểm 3.2, Khoản 3, Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Sau một năm, kể từ ngày có quyết định kỷ luật hoặc quyết định khiếu nại kỷ luật (trừ quyết định kỷ luật khai trừ), nếu đảng viên không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực".

Tiết 5.2.1, Điểm 5.2, Khoản 5, Điều 32 trong Hướng dẫn này cũng quy định: "Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật".

Như vậy, căn cứ các quy định trên, trường hợp câu hỏi nêu, trong khi chờ giải quyết khiếu nại, đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật. Khi có quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật thì thời gian chấm dứt hiệu lực kỷ luật là sau một năm và được tính từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật đối với đảng viên đó. Như vậy, sẽ tính từ ngày có quyết định giảm hình thức kỷ luật cảnh cáo xuống khiển trách.

Câu hỏi 106: Đồng chí H, đảng viên dự bị vi phạm pháp luật bị cơ quan pháp luật ra quyết định truy tố. Trong chi bộ có ý kiến đề nghị xóa tên trong danh sách đảng viên. Song, cũng có ý kiến cho rằng chỉ đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đồng chí H, chờ kết luận của cơ quan pháp luật để xern xét xử lý kỷ luật.

Ý kiến nào đúng và xử lý thế nào?

Trả lời:

Điểm 4.1, Khoản 4, Điều 40 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết đinh số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Đảng viên (kể cả cấp uỷ viên) có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cố ý gây trở ngại cho hoạt động của cấp uỷ và công tác kiểm tra của Đảng hoặc bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra quyết định truy tố, tạm giam thì phải đình chỉ sinh hoạt đảng".

Nhưng tại Điểm 1.2, Khoản 1, Điều 40 Hướng dẫn trên còn quy định: "Đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc bị tạm giam, nếu tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận rõ đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý thì chủ động xem xét, xử lý kỷ luật đảng, không nhất thiết chờ kết luận hoặc tuyên án của tòa án có thẩm quyền, không cần quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt mới xem xét, xử lý kỷ luật. Sau khi có bản án hoặc quyết định của tòa án, nếu thấy cần thiết, tổ chức đảng có thẩm quyền kỷ luật xem xét lại việc kỷ luật đảng đối với đảng viên đó".

Như vậy, đảng viên dự bị H sau khi bi truy tố phải đình chỉ sinh hoạt đảng. Nếu tổ chức đảng nắm vững vi phạm của đồng chí H thì xem xét xử lý kỷ luật ngay. Nếu không nắm vững vi phạm của đảng viên thì chờ kết quả xử lý của cơ quan pháp luật và khi tòa án xét xử bản án đã có hiệu lực pháp luật thì tổ chức đảng tiến hành xem xét thi hành kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng.

Nếu đảng viên dự bị H bị tòa án xử phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên, sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ bản án của tòa án để xóa tên trong danh sách đảng viên.

Câu hỏi 107: Đảng ủy cơ sở tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với đồng chí Nguyễn Văn Q, trưởng tiểu khu. Qua kiểm tra đã kết luận đồng chí Nguyễn Văn Q có vi phạm trong quản lý và sử dụng quỹ của tiểu khu đến mức phải thi hành kỷ luật. Đảng ủy cơ sở đã tiến hành xem xét, xứ lý kỷ luật đồng chí Q bằng hình thức cảnh cáo. Trong buổi công bố quyết định kỷ luật, đồng chí Q không nhận quyết định kỷ luật của đảng ủy (có lập biên bản). Sau đó ít ngày, đồng chí Q làm đơn khiếu nại kỷ luật đảng lên tổ chức đảng cấp trên.

Trường hợp này có giải quyết đơn khiếu nại hay không?

Trả lời:

Điểm 6.3, Khoản 6, Điều 39 trong Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định: "Trường hợp đảng viên bị kỷ luật từ chối nghe công bố hoặc không nhận quyết định kỷ luật thì ghi vào biên bản, quyết định kỷ luật vẫn được công bố và có hiệu lực thi hành ngay".

Theo quy định trên, đảng viên Nguyễn Văn Q không nhận quyết định kỷ luật của đảng ủy thì quyết định vẫn có hiệu lực thi hành. Do đó, đảng viên Nguyễn Văn Q vẫn có quyền khiếu nại về quyết định kỷ luật đối với mình và tổ chức đảng nhận được đơn khiếu nại phải giải quyết theo thẩm quyền. Tuy nhiên, việc đảng viên Nguyễn Văn Q không nhận quyết định kỷ luật là vi phạm quy định của Đảng, do đó khi giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng có thẩm quyền cần xem xét trách nhiệm của đảng viên Nguyễn Văn Q về vi phạm này và yêu cầu đồng chí Nguyễn Văn Q trong khi chờ giải quyết khiếu nại kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật của đảng ủy cơ sở.

Nguồn: http://dangcongsan.vn/