Dịch vụ xây dựng cổng thông tin điện tử

 
- Xã Đại Mỗ được thành lập ngày 19/02/1964 theo Quyết định số 73/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ. Diện tích đất tự nhiên là 498,1ha, dân số tính đến ngày 31/12/2012 là 21.040 người, chia thành 9 thôn trong đó 7 thôn nhân dân có sản xuất nông nghiệp, 2 thôn chủ yếu là cán bộ, công chức đã nghỉ hưu và đang công tác sinh sống. Vị trí: phía Đông giáp xã Mễ Trì; phía Tây giáp xã Tây Mỗ; phía Đông giáp phường Vạn Phúc; phía Nam giáp phường Dương Nội - Quận Hà Đông.
 
 
- Trải qua quá trình hình thành và phát triển từ xã Hữu Hưng - Xã Đại Mỗ, đến nay, Đảng bộ xã Đại Mỗ có 576 đảng viên, chia thành 13 chi bộ trong đó có 01 chi bộ cơ quan, 03 chi bộ nhà trường, 09 chi bộ thôn. Nhiều năm liền, Đảng bộ xã đạt trong sạch vững mạnh. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị, chính trị - xã hội hàng năm đạt tiên tiến trở lên. Đội ngũ cán bộ, công chức có 25 người, trong đó: Trình độ chuyên môn trung cấp: 7 người; Đại học: 18 người, Thạc sĩ 01 người
 
- Chức năng, nhiệm vụ: Thực hiện theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003 và các nhiệm vụ do Thành phố, huyện Từ Liêm giao.
 
- Những thành tích đã đạt được:
 
+ Năm 2001: Bằng khen của Thành phố đã có thành tích hoàn thành tốt nhiệm vụ (Quyết định số 1508/QĐ-UB ngày 07/3/2002).
 
+ Năm 2002: Bằng khen của Thành phố đã có thành tích hoàn thành tốt nhiệm vụ (Quyết định số 1353/QĐ-UB ngày 10/3/2003).
 
+ Năm 2003: Bằng khen của Chính phủ đã có nhiều thành tích trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và BVTQ (Quyết định số 1102/QĐ-TTg ngày 06/10/2003).
 
+ Năm 2006: Bằng khen của Thành phố đã có thành tích hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác (Quyết định số 397/QĐ-UBND ngày 29/01/2007).
 
+ Năm 2009: Bằng khen của Thành phố đã có thành tích hoàn tốt nhiệm vụ công tác (Quyết định số 491/QĐ-UBND ngày 29/01/2010).
 
+ Năm 2010: Danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (Quyết định số 740/QĐ-CTN ngày 28/5/2010).
 
+ Năm 2011: Thành phố tặng danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” đã có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác (Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 12/01/2012).
 
+ Năm 2012: Thành phố tặng danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” đã có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác (Quyết định số 471/QĐ-UBND ngày 18/01/2013).
 
+ Ngày 27/12/2013 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 132/NQ-CP về việc “Điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập 02 quận và 23 phường thuộc thành phố Hà Nội”;
 
+ Ngày 30/3/2014 Ban Thường vụ Quận ủy Nam Từ Liêm có Quyết định số 11-QĐ/QU Về việc chỉ định Ban chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy Phường Đại Mỗ;
------------------------------------------------------
 
LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ ĐẠI MỖ
GIAI ĐOẠN 1930 - 2007
---------
 
LỜI NÓI ĐẦU

 

Xã Đại Mỗ ngày nay thuộc huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Nơi đây, người dân vốn có truyền thống văn hoá, cần cù và sáng tạo trong lao động, anh dũng kiên cường trong đấu tranh chống ngoại bang xâm lược.
 
Với mục đích không ngừng giáo dục và phát huy truyền thống cách mạng địa phương, tạo động lực thúc đẩy xã Đại Mỗ phát triển toàn diện, bền vững về mọi mặt. Năm 1990, Ban Chấp hành Đảng bộ chỉ đạo tổ chức sưu tầm, biên soạn cuốn “Lịch sử cách mạng xã Đại Mỗ” giai đoạn 1930 - 1990. Tuy nhiên, do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan, nên cuốn sách chưa kịp phát hành.
 
Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW và Thông tri số 07-TT/TU, về việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu biên soạn lịch sử Đảng bộ địa ph­ương. Ngày 29/01/2007, Ban Chấp hành Đảng bộ xã ra Nghị quyết số 19-NQ/ĐU về việc tổ chức sưu tầm, biên soạn bổ sung cuốn “Lịch sử cách mạng xã Đại Mỗ” giai đoạn 1930 - 2007.
 
Cuốn sách ghi lại những vấn đề cơ bản về đặc điểm tự nhiên, địa chí hành chính và lịch sử dân cư; truyền thống tốt đẹp của bốn làng cổ x­ưa, cũng như­ truyền thống cách mạng hơn nửa thế kỷ đấu tranh giành độc lập, tự do và kết quả đạt được trong công cuộc xây dựng xã hội mới, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ, Đảng bộ xã Đại Mỗ.
 
Các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng; cán bộ và cán bộ chủ chốt trong xã qua các thời kỳ; cán bộ các địa ph­ương khác đã nhiệt tình đóng góp ý kiến. Ban chỉ đạo, nhóm sưu tầm và nhóm biên soạn đã cố gắng sư­u tầm, xác minh tư­ liệu cho nội dung cuốn sách được đầy đủ, chính xác. Song, do nhiều sự kiện diễn ra đã lâu, tài liệu lưu trữ không được đầy đủ; nên cuốn sách không thể tránh khỏi thiếu sót.
 
Vì vậy, chúng tôi không giám cho rằng cuốn sách nhỏ này là một cuốn lịch sử đầy đủ theo đúng nghĩa “một cuốn lịch sử”, mà chỉ coi đây là cuốn sách ghi lại đư­ợc những nội dung cơ bản về đặc điểm, lịch sử, truyền thống và lịch sử cách mạng của xã Đại Mỗ. Ban Thường vụ Đảng uỷ rất mong được đón nhận nhiều ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Đại Mỗ, cùng bạn đọc gần xa để khi tái bản, cuốn sách được bổ sung, chỉnh lý hoàn chỉnh hơn
 
Ban Thư­ờng vụ Đảng uỷ xã Đại Mỗ chân thành cảm ơn các đồng chí lão thành cách mạng, cán bộ chủ chốt, cán bộ hoạt động cách mạng qua các thời kỳ của xã, và Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Từ Liêm, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội đã cung cấp nhiều tư liệu, đóng góp nhiều ý kiến cho nội dung cuốn sách; Cảm ơn nhóm biên soạn đã nhiệt tình nghiên cứu tư liệu, biên soạn để cuốn sách được ra mắt bạn đọc.   
 
TM. BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ ĐẠI MỖ
Bí thư
Đỗ Tiến Sơn
 
PHẦN MỞ ĐẦU
ĐẶC ĐIỂM VÀ TRUYỀN THỐNG
 
I. ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, ĐỊA CHÍ HÀNH CHÍNH VÀ LỊCH SỬ DÂN CƯ.
 
1. Địa lý tự nhiên:
 
Xã Đại Mỗ ở vị trí phía nam huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội, giới hạn trong khoảng 105 phút 45 giây kinh độ đông, 20 phút 59 giây vĩ độ bắc *(* theo Công báo số 111 + 112 ngày 01/3/2007); tiếp giáp 7 xã: Tây Mỗ, Mễ Trì, Trung Văn (thuộc huyện Từ Liêm), Văn Mỗ, Vạn Phúc, Văn Khê (thuộc Thị xã Hà Đông) và Dương Nội (thuộc huyện Hoài Đức). Từ điểm cực Bắc xuống điểm cực Nam của xã khoảng 3,7 km, từ điểm cực Tây sang điểm cực Đông 3,5 km *(* dựa theo Bản đồ địa giới hành chính huyện Từ Liêm tỷ lệ 1: 10. 000 lập năm 2000 trên nền Bản đồ địa hình xuất bản năm 1983 và đường địa giới hành chính xác định năm 1994). Diện tích đất tự nhiên 4,753 km2, dân số…. *(* Thống kê của UBND xã Đại Mỗ năm 2007).
 
Đại Mỗ có khoảng 2 km sông Nhuệ chảy qua. Sông Nhuệ khởi nguyên từ làng Đăm, chảy qua 10 xã: Tây Tựu, Minh Khai, Phú Diễn, Cầu Diễn, Xuân Phương, Mỹ Đình, Tây Mỗ, Mễ Trì, Đại Mỗ và xã Trung Văn thuộc huyện Từ Liêm (Đoạn sông lối từ sông Hồng chảy đến xã Phú Diễn là sông đào Thuỵ Phương), qua Thị xã Hà Đông và các huyện phía nam tỉnh Hà Tây rồi xuôi xuống Hà Nam *(* + Xem: “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ - NX năm 1989; “Bách khoa thư Hà Nội năm 2005 “; “Hà Nội nửa thế kỷ phòng chóng thiên tai”- NXBHN năm 2000; Bản đồ địa giới hành chính huyện Từ Liêm tỷ lệ 1:10.000 lập năm 2000, trên nền Bản đồ địa hình xuất bản năm 1983 và đường địa giới hành chính xác định năm 1994). Sông Nhuệ đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực: là chướng ngại thiên nhiên lợi hại trong tấn công hay phòng thủ khi có chiến sự xảy ra *(* Lịch sử ghi lại: “Sau Nhuệ Giang, các làng, các xóm đều được biến thành căn cứ chiến đấu. Sông Nhuệ không sâu, không rộng, nhưng cũng là phòng tuyến thiên nhiên sau lưng Hà Nội, bảo vệ con đường lên Sơn Tây”- Xem “Chống xâm lăng - Bắc kỳ kháng Pháp” của Trần Văn Giàu, sách “LSCM xã Phú Diễn” xuất bản năm 1999 trang 43, đã dẫn); đặc biệt còn ảnh hưởng lớn đến cuộc sống bao đời của người dân nông thôn, đem lại nhiều nguồn lợi: tưới, tiêu phục vụ sản xuất cho nông nghiệp, giao thông đường thuỷ đi nhiều vùng miền. Do quá trình bồi tụ của đất, ngày nay sông Nhuệ hẹp và nông.
 
Trên địa bàn xã có đường 70 chạy qua - giao thông huyết mạnh quan trọng *(* Đường 70 xưa còn gọi là đường thiên lý. Vào thế kỷ thứ VI, đường 70 còn gắn với sự kiện phân chia lãnh địa quản lý giữa Lý Nam Đế và Triệu Việt Vương - xem: “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú), đi liên xã: Thượng Cát, Tây Tựu, Xuân Phương, Tây Mỗ đến thị xã Hà Đông; đi liên vùng: ngược phía tây đi Sơn Tây, sang các vùng bên tả ngạn sông Hồng; ngược phía bắc đi Hà Đông, gặp đường 6 xuôi về Hà Nội; ngang phía đông đi Thạnh Thất, v.v. Trước hoà bình lập lại, đường giao thông trong xã chưa được mở rộng, các làng trong xã chỉ có những đường nhỏ hẹp; từ phía bắc xuống phía nam của xã có sông Nhuệ chia cắt, nên việc đi lại sang các vùng, làng xã phía Đông Bắc gặp khó khăn, người dân phải bắc cầu qua sông để đi lại.
 
Không phải ngay từ đầu, Đại Mỗ đã là vùng đồng bằng với những xóm làng đông vui trù phú. Trong quá trình xa xưa, mảnh đất Đại Mỗ đã trải qua nhiều quá trình “dâu bể”, quá trình “thương hải biến vi tang điền” và qúa trình “biển xanh biến thành đồng ruộng xanh” diễn ra hàng nhiều ngàn năm của lòng đất. Khoảng trên 3000 năm trước đây, vùng đất Đại Mỗ và toàn bộ châu thổ sông Hồng còn đang ngập chìm trong nước biển; Sau đó (cách đây khoảng 2000 năm), đường bờ biển lùi xuống Ninh Bình, Nam Định *(* Xem sách “Nhìn lại lịch sử” của Phan Duy Kha - Lã Duy Lan - Đinh Công Vĩ, NXBVH - TT, Hà Nội năm 2003, thì: ở phía nam Hà Nội vắng hẳn các làng tên Kẻ. Theo một số tài liệu nghiên cứu cách đây khoảng 3000 năm, đường bờ biển ở vào khoảng Chương Mỹ, Thường Tín tỉnh Hà Tây, nối đến thành phố Hải dương ngày nay; lúc ấy, vùng núi đá vôi Nho Quan - Ninh Bình có phong cảnh như vịnh Hạ Long bây giờ). Như vậy, vào thời Hùng Vương, vùng đất Đại Mỗ đang là bãi cát bồi ven biển, chưa được khai phá, là lãnh thổ đang” tranh chấp” giữa con người và thiên nhiên, chưa có những khu vực dân cư ổn định (Có thể, lúc ấy vùng này đang là vùng nước nợ); trên vùng đất này đã diễn ra một quá trình “biển thoái” (mực nước biển hạ xuống vài mét, phần lớn đồng bằng Bắc Bộ lộ ra), biển trở thành đất liền. Sau thời kỳ “biển thoái” là lau sậy, rừng cây rậm rạp, những cây to người ôm không xuể. Cùng với quá trình xanh hóa của đất bằng là những tác quái của thiên tai: Bão tố quật đổ cây to, sét đánh cháy những khoảng rừng lớn, những trận động đất trùm lên tất cả. Các vật liệu trầm tích đột ngột phủ kín, ngăm cản quá trình ô xy hóa của rừng cây vừa cháy trụi, làm cho gỗ dần dần phân hủy thành than bùn *(* Vào những năm 70 của thế kỷ XX, tại vùng giáp gianh với Xuân Phương, khi đào hồ đến độ sâu khoảng10 mét, người ta đã thấy có sự mộc hoá trở thành những vỉa than. Điều này đã cho thấy khả năng vùng đất này cũng trải qua những lần biến động do thiên nhiên - xem LS MK). Không chỉ có thế, trong những trận vỡ đê sông Hồng, những lớp phù sa bồi đắp làm cho lớp đất trầm tích đã dày lại càng dày thêm *(* năm 1937, khi cải tại sông Nhuệ - đoạn qua Đại Mỗ, người ta thấy dưới đáy sông có những thân gỗ to chưa phân giải còn nguyên thớ,...). Cảnh quan vùng đất Đại Mỗ cho đến giữa thế kỷ thứ II trước công nguyên là như vậy.
 
Do cấu tạo địa chất, tác động của địa chấn và sự bồi đắp không đều của phù sa, địa hình xã Đại Mỗ có xu hướng nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Đất đai của Đại Mỗ có thể chia thành hai phần khác nhau. Phần phía Bắc và Tây Nam chiếm khoảng 2/3 diện tích toàn xã có địa thế cao, gồm ba thôn An Thái, Giao quang và Đại Mỗ. Với đặc điểm địa hình này, cư dân ở đây có lợi thế cả về cư trú lẫn canh tác; làng xóm đặt nơi cao ráo; ruộng đồng ít bị úng ngập, thuận tiện trồng lúa và các loại hoa mầu. Phần phía Đông Nam thuộc thôn Ngọc Trục, chiếm khoảng 1/3 diện tích, ở vào thế nghiêng dần, nên có địa thế trũng, hầu hết ruộng đồng thường để cấy lúa là chủ yếu; trước phía tây nam là những khu đất cao, được chọn làm nơi lập làng.
 
Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, cư dân Đại Mỗ, bằng đôi bàn tay cần cù và trí thông minh, đã dần dần khai phá và biến đổi cảnh quan trên thành vùng đồng bằng trù phú như ngày nay.
 
2. Địa chí hành chính và lịch sử dân cư:
 
Có lẽ, do Đại Mỗ nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, trong vành đai hệ thống giao thông bộ, thuỷ, nên cũng là một trong những vùng đất sớm có người Việt Cổ tiến đến khai phá, lập cư sinh sống.
 
Trên địa bàn xã, khi người dân đào đất làm gạch đã sưu tập được nhiều mảnh gốm, có mảnh gốm in hoa văn ô vuông, bát đĩa có nước men dại, những viên gạch cổ cỡ lớn có bề dày hình hoa văn ô trám lồng. Theo các nhà nghiên cứu khảo cổ và dân tộc học, thì những di vật tìm thấy trong các di chỉ cho thấy Đại Mỗ là một trong những nơi sớm có người Việt Cổ đến sinh sống (cách ngày nay khoảng 2000 năm), họ có một đời sống khá phong phú. Trên cơ sở duy trì nền văn minh sớm này, người dân Đại Mỗ dần dần khai phá thiên nhiên, lập nên những xóm làng có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời. Truyền thuyết, thần phả, thần tích, ký ức người già ở mỗi làng và sử sách thành văn đã nói nên điều đó. Đặc biệt, năm Đinh Sửu (557), Đại Mỗ được chọn làm trung tâm của Ô Diên, nơi ngự quản của Lý Phật Tử *(* xem: “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, NXB VHTT năm 1999, trang 63). Những sự kiện này, cho phép xác định một thực tế lịch sử: Do có vị trí quan trọng (về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội), dân định cư đông đúc, có cuộc sống phong phú từ lâu.
 
Về thời điểm xuất hiện của Đại Mỗ, có hai khả năng diễn ra. Thứ nhất, nếu chủ nhân của Đại Mỗ có từ khoảng cách đây 3000 ngàn năm, thì đã có thể diễn ra một cuộc di chuyển do sự biến cố của thiên nhiên. Thứ hai, với tồn tại của các di chỉ đã phát hiện, thì làng xã đã có cách đây khoảng từ 2000 năm trở lên. Dù thế nào đi chăng nữa, ít nhất Đại Mỗ cũng ra đời và tồn tại khoảng 2000 năm nay.
 
Từ xa xưa, xã Đại Mỗ có 4 làng: Ngọc Trục, Đại Mỗ, Giao Quang và An Thái. Thời Nguyễn có Khế Ngang, Huyền Phố, An Thái và Phú Thứ; khoảng năm đầu thế kỷ 20, Phú Thứ tách ra thành lập xã riêng. Mỗi làng ở Đại Mỗ đều có tên gọi nôm: Ngọc Trục có tên kẻ Dộc; Đại Mỗ có tên kẻ Mỗ; Giao Quang có tên kẻ Quánh; An Thái có tên Xóm Chùa.
 
Nguồn gốc tên gọi của các làng có từ bao giờ, mang ý nghĩa gì thì hiện nay chưa đủ tư liệu để khảo cứu chính xác. Theo các nhà nghiên cứu dân tộc học *(* + Xem giáo trình “Xã hội học nông thôn” của Tống Văn Chung - XB ĐHQG - năm 2001 - Tr 316. + Sách “Nhìn lại lịch sử” của Phan Duy Kha - Lã Duy Lan - Đinh Công Vĩ, NXBVH - TT, Hà Nội năm 2003. + Sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh - NXBKH, Hà Nội năm 1964), thì xưa kia ở Việt Nam ta thường lấy chữ “Kẻ” đặt lên trên một chữ khác để chỉ nơi cư trú (đơn vị hành chính tương đương với một làng) của một cộng đồng người Việt Cổ; chữ thứ hai thường chỉ một đặc điểm gì gì về địa lý, kinh tế hay một đặc trưng về xã hội của nơi ấy. Những làng mang tên Kẻ phân bố ven theo chân núi Ba Vì, Tam Đảo và dọc theo châu thổ sông Hồng từ Phong Châu, Việt Trì xuống đến phạm vi Thủ đô Hà Nội ngày nay. Trong đó Từ Liêm đều có nhiều làng Kẻ. Những làng có đền thờ (miếu thờ) các nhân vật thời Hùng Vương, những làng lưu truyền các truyền thuyết về các tướng tá thời Hùng Vương, thường là những làng mang tên Kẻ. Vùng đất Thủ đô Hà Nội và Hà Tây ngày nay cũng là một vùng đất cổ, nhiều làng có tên Kẻ. Có nhiều Kẻ ở ngoại thành như Kẻ Mỗ, Kẻ Đăm, Kẻ Diễn, Kẻ Noi, v.v. Những Kẻ, xưa kia là những nơi tập hợp cư dân, là đơn vị cơ sở đầu tiên của thời kỳ Hùng Vương dựng nước; Đại Mỗ cũng thuộc những đơn vị hành chính nằm trong trường hợp này.
 
Như vậy, từ “Dộc” và từ “Quánh” biểu thị đặc trưng về địa lý, đất đai; từ “Mỗ” có thể đọc là “Mụ” nghĩa là Mẹ. Địa danh “Thiên Mụ” có nghĩa là “Mẹ trời” - người Mẹ thiêng liêng của xứ xở. Ở Đại Mỗ hiện nay vẫn lưu giữ được tên những địa danh cổ như: cầu Triền, đồng Tó, v.v. Theo các nhà khảo cổ học về địa ngôn ngữ học, thì những địa danh này thường gắn với một trung tâm Việt cổ: Dền - Triền – Chiềng, là nơi ở của “Thủ lĩnh” – Vua thời cổ. Theo đó, địa danh “Mỗ” rất có thể gắn với một trung tâm văn hóa xã hội của người Việt cổ.
 
Bốn làng ở Đại Mỗ vừa có tên gọi nôm, vừa có tên chữ (dùng chữ Hán). Có nhiều nguyên nhân của việc dùng chữ Hán và gọi tên làng theo cách viết chữ Hán. Căn cứ vào sử sách ghi lại, thì việc đổi tên gọi làng xóm có hai lý do chính:
 
+ Thứ nhất: Các triều đại phong kiến trước đây thấy tên gọi của các làng xóm hoặc là có cách gọi nôm, hoặc xen lẫn nôm, hoặc tên gọi mang ngữ nghĩa không đẹp nên đã cho phép các xóm làng đó được phép bàn định để sửa đổi *(* xem thêm “Tên làng xã Việt nam cuối thế kỷ 19” -NXB KHXH - Hà Nội 1981 - Trang 645).
 
+ Thứ hai: Những địa danh trùng với tên gọi mà triều đình đã ra lệnh phải kiêng viết đúng một chữ Hán hoặc đọc đúng âm của chữ tục gọi là kiêng húy; thì tên những địa danh đó đều phải đổi.
 
Như vậy, có thể đoán định rằng Kẻ Dộc đổi thành Ngọc Trục; Kẻ Mỗ đổi thành Thiên Mỗ; Kẻ Quánh đổi thành Giao Quang; Xóm Chùa đổi thành An Thái rất có thể đã nằm trong các trường hợp này *(* Những tên xóm đều mang ngữ nghĩa tốt đẹp như: An Thái có nghĩa là yên tâm, thái bình; Thiên Mỗ là mẹ trời; Giao Quang là ánh ngọc giao tỏa sáng; Ngọc Trục có nghĩa là xóm thôn ở vị trí trọng yếu, hoặc trục xe bằng ngọc). Nhưng, thực tế người dân vùng Mỗ chải bao đời dù biết trùng tên chữ mang ý nghĩa tốt đẹp, vẫn quen gọi tên nôm, một cách gọi thể hiện sự gắn bó giữa con người với xóm làng, tình cảm, tự hào thông qua sự giao tiếp hàng ngày.
 
Thôn Ngọc Trục, xưa còn có tên gọi là Thượng Thư, sau (khoảng thời Lê) đổi là Thượng Văn, có 4 giáp, cùng với Trung Văn thuộc về xã Ngọc Trục. Diện tích đất thổ cư (đất ở) 12,5 ha, đất canh tác 87,9 ha (năm 2007, có 276 hộ, 728 nhân khẩu). Căn cứ vào tấm bia “Bản thôn tự sự bi ký” *(* bài ký trên bia ghi sự việc thờ cúng của bản thôn) dựng năm Vĩnh Trị thứ nhất (1676), thì 4 giáp đã có tên gọi là Tây Thịnh, Trung Hậu, Trung Quả, Bắc Quả. Đến đầu thế kỷ 20, giáp Trung Hậu vẫn giữ nguyên tên gọi; các giáp Tây Thịnh, Trung Quả, Bắc Quả đổi tên là Đại Thuận, Triền Hữu và Đương Thịnh; cả 4 giáp này nằm trong 7 xóm: xóm Đầu Làng, xóm Bồ, xóm Chùa, xóm Chùa Nam Trung, xóm Chùa Nam Hạ, xóm Đình và xóm Chùa Đông.
 
Thôn An Thái, tương truyền được thành lập từ thế kỷ 18 thời 3 cụ Đại Vương họ Nguyễn Quý; thôn có tên là Xóm Chùa, sau đổi là An Thái. Cả thôn có 2 giáp, thời cuối Lê đầu Nguyễn thuộc xã Hồng Đô, sau đổi là Phú Đô. Diện tích đất thổ cư (đất ở) 3,2  ha, đất canh tác 12,46 ha (năm 2007, có 548 hộ, 1390 nhân khẩu).
 
Thôn Giao Quang, xưa còn có tên gọi là Trùng Quang thuộc xã Hồng Đô. Diện tích đất thổ cư (đất ở) 4,7 ha (5,2 ha ?), đất canh tác 34 ha. Trước năm 1945, có khoảng 60 hộ, trên 400 nhân khẩu (năm 2004, có 145 hộ, 650 nhân khẩu). Thời Lê và đầu Nguyễn, cả thôn có 3 giáp: Đông, Đoài, Nam; nay là 3 xóm: xóm Trọng (có thể do chữ “Trong” gọi chệch), xóm Giữa và xóm Ngoài (còn gọi là xóm Cuốc). Thôn có họ Nguyễn Xuân, Nguyễn Văn, Nguyễn Bá, Nguyễn Đắc, Nguyễn Quý, Nguyễn Hữu, Vũ, Doãn, Đào, v.v từ nhiêu nơi khác đến, như: họ Nguyễn Xuân gốc Thanh Hóa di cư ra Phú Đô sau về Giao Quang đến nay có 9 đời; họ Nguyễn Văn có 13 đời, v.v.
 
Thôn Đại Mỗ, xưa kia có tên là Thiên Mỗ bao gồm cả thôn Tây Mỗ. Diện tích đất thổ cư (đất ở) 65 ha, đất canh tác 141,5 ha (năm 2007, có 476 hộ, 2109 nhân khẩu). Vào Năm Đinh Sửu (557), thôn này là trung tâm của Ô Diên, nơi ngự quản của Lý Phật Tử *(* xem: “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, NXB VHTT năm 1999, trang 63).
 
Gắn với quá trình thăng trầm của lịch sử hành chính vùng Kinh thành Thăng Long và tỉnh Hà Đông, địa chí hành chính vùng đất Đại Mỗ cũng trải qua nhiều lần thay đổi. Căn cứ vào các tài liệu lịch sử, thời các Vua Hùng (năm 2879 TrCN - 256 TrCN) và An Dương Vương, Đại Mỗ thuộc bộ Giao Chỉ, một trong mười năm bộ của nhà nước Văn Lang *(* bộ Giao Chỉ gồm: đất Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình ngày nay; xem “Tóm tắt niên biểu Lịch sử Việt nam” , NXB VH-TT, năm 2001). Hơn một ngàn năm Bắc Thuộc sau đó *(* từ năm 179 TrCN - khi Triệu Đà tiêu diệt nhà Thục An Dương Vương, đến năm 938 - khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán), Đại Mỗ lần lượt nằm trong quận Giao Chỉ, quận Giao Châu, quận Giao Chỉ, huyện Tống Bình – Hà Nội ngày nay *(* xem “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, NXB VHTT năm 1999 - trang 66 và Bách khoa thư Hà Nội). Đến đầu thế kỷ VIII, chính quyền đô hộ nhà Đường tổ chức đơn vị hành chính đến cấp xã *(* xem: “lịch sử nhà nước và pháp luật”, Tác giả Vũ Thị Phụng, Trường ĐHTH Hà Nội -XB năm1993), nhưng chưa rõ đã có cấp xã ở Đại Mỗ hay không, chỉ có thể biết rằng: xưa kia dân thường gọi là “Mỗ” thuộc Từ Châu (năm 602). Năm 607, chính quyền đô hộ nhà Tề – Lương bỏ cấp Châu, Đại Mỗ thuộc Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Năm 621, lập huyện Từ Liêm, Đại Mỗ thuộc huyện này. Suốt thời kỳ dài từ buổi đầu dựng nước đến hết Bắc Thuộc này, ở cấp hành chính cơ sở, chỉ có thể đoán định rằng *(* Do chưa đủ tài liệu để khảo cứu) Đại Mỗ nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, thuộc các đơn vị hành chính trên.
 
Thời cuối Lê, cả bốn thôn Ngọc Trục, Đại Mỗ, An Thái, Giao Quang đều thuộc huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây.
 
Sang thời kỳ nhà Nguyễn cho phép lập Tổng, xã Đại Mỗ thuộc tổng Thiên Mỗ, năm Tự Đức nguyên niên 1848, tổng này đổi thành tổng Đại Mỗ *(* theo sách: + “Lịch triều hiến chương loại chí” - NXBKHXH - năm 1992; + sách “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19 thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra” – NXBKHXH – 1981; + sách “ức trai di tập Dư địa chí” – viết năm 1435 – NXB văn sử học – năm 1960; thì Tổng Thiên Mỗ có 7 xã, thôn, gồm: Thiên Mỗ, Tây Mỗ, thôn Vạn Bảo, thôn Mộ Lao, thôn Ngọc Trục, thôn Hồng Đô, thôn Phùng Quang - ứng với các xã Tây Mỗ, Đại Đỗ, Trung Văn thuộc Từ Liêm hiện nay), huyện Từ Liêm, Phủ Quốc Oai, Trấn Sơn Tây, Bắc Thành (Miền Bắc ngày nay); năm 1831, chia Tỉnh, thuộc huyện Hoài Đức, Phủ Hoài Đức,Tỉnh Hà Nội; từ năm 1888, phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Đông (riêng thôn Ngọc Trục, đến năm 1919 thuộc thị xã Hà Đông).
 
Sau cách mạng tháng 8/1945 (bỏ cấp Phủ, chỉ còn cấp huyện), xã Đại Mỗ thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
 
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xân lược, xã Đại Mỗ lần lượt thuộc các đơn vị hành chính như sau:
 
+ Tháng 9/1947, thuộc liên quận huyện IV *(* gồm: huyện Hoài Đức, Đan Phượng và Quận IV Hà Nội.+ xem: Lịch sử Đảng bộ TP Hà Nội - T1. + LSCM huyện Đan Phượng ghi là liên quận huyện I), tỉnh Hà Nội.
 
+ Đầu năm 1948, thuộc huyện Liên Bắc *(* gồm huyện Hoài Đức và Đan Phượng; Từ 10/5/ - 01/10/1948, thuộc tỉnh Lưỡng Hà - gồm Hà Nội và Hà Đông), tỉnh Hà Đông.
 
+ Tháng 5/1948, Hà Nội và Hà Đông sáp nhập thành tỉnh Lưỡng Hà; sau đó, Hoài Đức và Đan Phượng tách khỏi liên quận huyện IV hợp thành huyện Liên Bắc, Đại Mỗ thuộc huyện này.
 
+ Tháng 10/1948, Lưỡng Hà giải thể, huyện Liên Bắc chia 2 miền (bắc và nam Liên Bắc), Đại Mỗ thuộc Nam Liên Bắc (riêng Ngọc Trục dưới chính quyền ta 1948 - 1951 thuộc xã Cương Kiên huyện Hoài Đức, năm 1957 thuộc xã Vạn Ngọc - Thị xã Hà Đông, năm 1961 thuộc xã Hữu Hưng).
 
Do yêu cầu của cuộc kháng chiến, từ năm 1949, các thôn của xã Đại Mỗ ngày nay cùng với các thôn của Tây Mỗ hợp nhất thành xã Hữu Hưng, và lần lượt thuộc các đơn vị hành chính như sau:
 
+ Tháng 4/1954, huyện Liên Bắc giải thể, Hữu Hưng thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông *(* + xem LSCM huyện Hoài Đức.+ xem: Lịch sử Đảng bộ TP Hà Nội - T1).
 
+ Ngày 18/4/1954, Liên Bắc tách thành huyện Hoài Đức và Đan Phượng, Hữu Hưng thuộc Hoài Đức.
 
+ Suốt thời gian địch tạm chiếm *(*từ khi lập tề-đầu năm 1947 đến hoà bình-năm 1954), về phía chính quyền địch thuộc tổng Đại Mỗ, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
 
Ngày 31/5/1961, mở rộng thành phố Hà Nội, lập lại huyện Từ Liêm, xã Hữu Hưng thuộc huyện này. Ngày 19/02/1964, chia xã Hữu Hưng; 4 thôn Đại Mỗ, Giao Quang, An Thái và Ngọc Trục sáp nhập thành lập xã Đại Mỗ với diện tích đất tự nhiên 5,16 km2, dân số 12.103 người *(* theo QĐ số 73/NV ngày 19/02/1964 của Bộ Nội vụ; xem Công báo số 111 + 112 ngày 01/3/2007); đơn vị hành chính này tồn tại đến ngày nay.
 
Tìm hiểu quá trình định cư, lập làng cho thấy: xã Đại Mỗ là mảnh đất sớm được con người khai phá. Dù quá trình ấy ở từng làng có dài ngắn khác nhau, nhưng cư dân cả 4 làng đều gắn với những quá trình biến cố của thiên nhiên, sự thăng trầm trong lịch sử, và đều là chủ nhân trên đất Đại Mỗ từ những ngày đầu rất xa xưa, cách ngày nay hàng ngàn năm.
 
II. SẢN XUẤT:
 
Nghiên cứu lễ hội truyền thống của dân làng và những tài liệu khảo cổ, cho ta biết về tình hình sản xuất ở thời kỳ sớm nhất của dân xã Đại Mỗ. Hội thổi xôi thi và lệ giao nuôi lợn (lợn ỉ chân ngắn) phục vụ việc dâng cúng lễ vào dịp lễ hội ở Giao Quang, cho ta biết sự xuất hiện rất sớm của nghề trồng trọt và chăn nuôi. Trong trồng trọt, trước tiên là trồng lúa và trồng cây ăn quả. Trong trồng lúa thì tập trung trồng lúa và ăn lúa nếp còn đang phổ biến *(* các tài liệu khảo cổ học và dân tộc học đã chứng minh rằng, trong lịch sử trồng lúa của người Việt, cây lúa nếp xuất hiện và được trồng trước, cây lúa tẻ chỉ phát triển và thay thế cây lúa nếp về sau này, do tính ưu việt về năng suất của nó). Những di chỉ tìm thấy có niên đại vào đầu công nguyên, cách chúng ta vào khoảng 2000 năm: nhiều mảnh gốm in hoa văn ô vuông, bát đĩa có nước men dại, những viên gạch cổ cỡ lớn có bề dày hình hoa văn ô trám lồng; cho ta biết sự xuất hiện và phát triển nghề thủ công bao gồm nghề dệt, đan lát, có thể có cả nghề làm gốm và đúc đồng. Với di chỉ và lễ hội thổi xôi thi, thì khả năng 2000 năm trước người Đại Mỗ đã bỏ qua giai đoạn kinh tế tự nhiên, chuyển hẳn sang giai đoạn kinh tế sản xuất và ổn định vững chắc cuộc sống định cư trên cơ sở nông nghiệp làm chính.
 
Trong các giai đoạn tiếp theo cho đến trước cách mạng tháng 8/1945, cư dân Đại Mỗ đã tiếp tục duy trì và phát triển nền sản xuất (trước đây) đã có ở di chỉ, và lễ hội làng Giao Quang, tạo nên truyền thống sản xuất ở trình độ ngày càng cao hơn, hoàn chỉnh hơn, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công và trao đổi hàng hóa.
 
1. Trồng trọt là hoạt động sản xuất chính yếu. Trong trồng trọt, lúa là cây trồng chủ đạo. Có hai loại lúa chính: Lúa nếp và lúa tẻ, trong đó lúa tẻ từ lâu đã là loại lúa trồng nhiều, thay thế cây lúa nếp. Lúa tể bao gồm nhiều loại khác nhau: lúa Gié Nam, lúa Sọc, lúa Tám Thơm, lúa Tám Ỏn, trong ngon và nổi tiếng hơn cả là lúa Tám Thơm và lúa Tám Ỏn. Lúa nếp có hai loại: nếp Cái Hoa Vàng và nếp Mây. Nếp Cái Hoa Vàng năng suất thấp nhưng thơm, dẻo và ngon, dùng để thổi xôi, nấu chè trong các dịp lễ, hội hè (đặc biệt thường được dùng trong lễ hội thổi xôi thi ở làng Giao Quang). Nếp Mây năng suất cao hơn nhưng ăn cứng hơn, thường dùng để làm bánh trái hay nấu rượu. Trong bốn làng, thì Giao Quang là nơi trồng nhiều các loại lúa ngon vì dân ở đây định kỳ có lễ hội thổi xôi thi, có nghề làm hàng xáo, nấu rượu. Trong một năm, lúa được trồng hai vụ chính: Vụ mùa được trồng tháng 6, thu hoạch tháng 10; vụ chiêm được trồng vào cuối đông, thu hoạch tháng 4. Ngoài ra, còn một vụ lúa ngắn ngày gọi là lúa Ba Giăng, cấy tháng 6 thu hoạch tháng 8, là vụ lúa cứu đói vào tháng giáp hạt. Các giống lúa cổ truyền có đặc tính cây cao, thơm, dẻo nhưng năng suất thấp; các giống lúa mới cây thấp, gạo cứng nhưng năng xuất cao. Xưa kia, thủy lợi chưa phát triển, nông nghiệp trồng lúa ở xã Đại Mỗ còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên; bởi thế năng suất còn thấp, mùa màng còn bấp bênh.
 
Bên cạnh cây lúa, còn các loại cây khác. Nghiên cứu lịch sử địa chí hành chính vùng Tổng Đại Mỗ cũ, người ta thấy một thực tế lịch sử trong trồng trọt ở Đại Mỗ: xưa nắm, đã có thời ở đây người ta chuyên làm đậu phụ (nổi tiếng như Giao Quang), đan lát (nổi tiếng như Ngọc Trục), dệt (nổi tiếng như Đại Mỗ). Như vậy, rất có thể phản ánh một thực tế trong lịch sử trồng trọt ở Đại Mỗ đã có thời người dân trồng nhiều loại cây chủ lực sau cây lúa: đậu tương, tre, dâu tằm, v.v.
 
Các loại hoa mầu được trồng phổ biến ở những nơi đất cao trong xã, đặc biệt nhiều ở làng Giao Quang, An Thái (hay Ngọc Trục, Đại Mỗ), như khoai lang Nghệ, khoai lang Trứng gà vừa thơm vừa bổ và ngọt. Ngô có nhiều loại: Ngô Trâu, ngô Gié, ngô Đá, ngô Nếp. Trên một thửa ruộng, hoa màu thường được trồng xen với nhau và trồng gối vụ. Kỹ thuật xen canh, gối vụ phản ánh một thực tế về kinh nghiệm sản xuất, tính cần mẫn lâu đời của người dân nhằm mục đích cùng một lúc và diện tích tận dụng được đất đai, chống xói mòn, bảo vệ đất, tăng thu nhập.
 
Tuy nhiên, ruộng đất của Đại Mỗ không thuộc loại phì nhiêu mẫu mỡ, ruộng loại nhị đẳng điền có 762 mẫu 3 sào 15 thước. Ở Giao Quang, loại nhất đẳng điển chiếm tới 21 mẫu 8 sào 1 thước. Việc canh tác của người lao động phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên, trước đây chủ yếu cấy một vụ, còn một vụ gặp năm thời tiết không thuận lợi thì số ruộng bỏ hoang tới 80 mẫu. Các cụ già kể lại, từ năm đào sông Nhuệ xong thì việc tưới tiêu cho đồng ruộng đỡ vất vả.
 
Dưới chế độ phong kiến, người nông dân Đại Mỗ còn trong cảnh khó khăn, đặc biệt là thiếu ruộng đất, thiên tai. Trước Cách mạng tháng 8/1945, diện tích đất canh tác của Đại Mỗ có 861 mẫu 6 sào 4 thước; trong đó công diền là 75 mẫu 4 sào, tư điền có 788 mẫu. Căn cứ vào sổ địa bạ của tổng Đại Mỗ lập năm Gia Long thứ 5 (1804 ; ? xem lại năm thứ 5) *(* Sách lưu chữ tại Thư viện hán Nôm ký hiệu AG 81/21) thì số ruộng đất của Ngọc Trục có 861 mẫu 6 sào 4 thước 7 tấc, trông đó ruộng công có 21 mẫu 7 sào 14 thước 6 tấc. Theo sổ địa bạ lập năm 1937, thì số ruộng của Giao Quang có 224 mẫu Bắc bộ, trong đó có 40 mẫu ruộng công.
 
Việc chiếm hữu ruộng đất và nạn xâm canh ở thôn xóm khá nhiều. Theo sổ địa bạ thì xứ Đầu Đẩn (? Đầu Đẩu, hay Đầu Đẩn) của Đại Mỗ có tới 18 mẫu 7 sào 3 thước, thì ông Nguyễn Gia Trực người ở phường Hồng Mai thuộc huyện Thọ Xương đến cầy cấy tới 2 mẫu 7 sào 27 thước. Riêng số ruộng ở xứ Đồng Thần thôn Giao Quang, thì người nơi khác đến canh tác cũng tới 24 mẫu 7 sào. Theo các cụ già ở địa phương kể lại thì càng về sau này, nhất là những năm đầu thế kỷ 20 nạn xâm canh ruộng đất, nạn mua bán ruộng đất ở Đại Mỗ xảy ra nghiêm trọng. Ở Ngọc Trục, riêng bà Lý Thu chiếm tới hơn 100 mẫu ruộng.
 
Đồng ruộng Đại Mỗ bị chia nhỏ ra nhiều loại như: ruộng của phe giáp, ruộng hậu, ruộng họ, v.v. Chỉ riêng Giao Quantrong, số ruộng đất công đã chiếm tới hơn 40 mẫu. Chính vì việc phân bổ ruộng đất như vậy, nhiều người lao động không có ruộng cầy cấy. Người chính gốc Đại Mỗ phải đi làm thuê, cấy mướn cho chủ ruộng đến xâm canh. Có hai hình thức làm thuê chính: lĩnh ruộng cầy cấy, đến vụ phải nộp sản phẩm theo sự thỏa thuận của người chủ ruộng với người cấy rẽ nộp tô; hoặc là cầy cấy công nhật. Dù hình thức nào người lao động cũng bị bóc lột. Nhiều gia đình có năm nộp tô xong trong nhà hết lương ăn; cuộc sống vô cùng khổ cực.
 
Chỉ sau ngày hòa bình lập lại, nhân dân mới được chia ruộng, đầu tư nhiều công sức cho công tác thủy lợi, nhờ vậy cánh đồng của xã Đại Mỗ mới cấy cầy được hai vụ một năm, năng suất lúa không ngừng được nâng cao. Người lao động quý trọng từng hạt thóc. Khi lúa được gặt về, nhân dân sàng sẩy hong phơi rất chu đáo. Ở Giao Quang tỷ lệ thóc xay ra đạt 73 % - 74 %. Hàng năm, người làm hàng xáo ở Mễ Trì thường vào Giao Quang đong thóc, gạo về làm hàng, sản xuất bún đem bán.
 
2. Chăn nuôi: cũng là hoạt động sản xuất lâu đời ở Đại Mỗ. Dù có ý thức hay không, nhưng người dân Đại Mỗ vẫn dựa vào chăn nuôi và trồng trọt để duy trì sự sống; là hai mặt thống nhất của kinh tế nông nghiệp, có quan hệ gắn bó với nhau, bổ sung phát triển cho nhau. Trồng trọt cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, ngược lại chăn nuôi vừa cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng trọt, là nguồn thu nhập bổ sung cho nhiều hộ gia đình. Bởi thế, chăn nuôi cùng với trồng trọt là những hoạt động sản xuất chính không thể thiếu được trong cơ cấu kinh tế của Đại Mỗ thời xưa. Do mối quan hệ đó và theo hướng đó, vật nuôi truyền thống trong xã bao gồm trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, cá. Trâu, bò được coi là đầu cơ nghiệp của nhà nông, là nguồn sức kéo quan trọng trong trồng trọt. Làng nào cũng có đàn trâu, bò hàng chục con. Lợn được nuôi ở từng gia đình (nhất là Giao Quang, An Thái). Nhiều nhà nuôi từ bốn con trở lên; mỗi co nuôi lớn đến 50 kg - 60 kg thì cho xuất chuồng để mua lứa khác thế vào. Phân lợn, phân trâu là nguồn cung cấp chủ yếu cho trồng trọt. Các giống lợn truyền thống gồm có: Lợn Ỷ chân thấp, bụng to, chậm lớn nhưng thịt ngon (được nuôi nghiều và nuôi giỏi ở làng Giao Quang); lợn Sông Dà chân cao, mõm dài, mau lớn, phàm ăn nhưng (lượng mỡ nhiều) thịt mỡ hơn. Chăn nuôi lợn ở Đại Mỗ có kỹ thuật cao, đã phát triển thành một nghề truyền thống, nhất là kỹ thuật nuôi lợn nái. Theo kinh nghiệm, việc chọn lợn cái phải giống lợn ỷ, chân có móng tròn, hai hàng vú phải dài, không có vú kẹ, mình dài, mõm bẹ. Mỗi lứa lợn chỉ nuôi tám con. Nhiều gia đình mỗi năm nuôi hai lứa. Khách hàng nhiều nơi đến mua lợn giống tại Đại Mỗ vì lợn giống ở đây hay ăn chóng lớn. Gà, ngan, ngỗng được nuôi phổ biến, mỗi gia đình khoảng vài trục con. Vịt nuôi thành đàn, (thường tập trung) nuôi vào mùa gặt (vì có nhiều nguồn thức ăn hơn, mà lại không làm ảnh hưởng tới mùa màng) để tận dụng thóc rơi vãi, ăn cua, tép, ốc, v.v. Ngoài nhu cầu phục vụ trồng trọt và tạo thêm nguồn thu lớn quan trọng, chăn nuôi còn là một nguồn thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao cho con người và dùng vào việc cúng lễ những khi rằm ba tết bảy.
 
3. Nghề thủ công: Sau trồng trọt, chăn nuôi là nghề thủ công. Nghề thủ công thường được tiến hành vào những tháng nông nhàn, ngoài thời gian lao động trên đồng ruộng, nhằm tận dụng thời gian rảnh dỗi, thu hút sức lao động của nhiều lứa tuổi với những việc làm phù hợp, vừa phục vụ nhu cầu tự cung, tự túc, vừa trao đổi, bán để thêm thu nhập. Tùy vào điều kiện tự nhiên, trong mỗi làng mỗi nghề tồn tại và phát triển ở những mức độ khác nhau.
 
+ Nghề làm đậu phụ phát triển từ lâu, nhất là ở làng Giao Quang. Người dân thường đi mua đỗ tương hạt về sản xuất. Trước đây mỗi gia đình thường chế biến từ 5 kg - 10 kg đậu hạt một ngày. Ngày tết hoặc ngày lễ có gia đình sản xuất tới 30 kg. Trước năm 1930, cả làng chế biến mỗi ngày khoảng 3 tạ (300 kg) đậu hạt. Nhiều gia đình đã tranh thủ thức khuya, dậy sớm làm đậu để sáng kịp có đậu đem bán ở chợ. Ngày nay, trong làng còn kể về người phụ nữ ở Giao Quang làm đậu “ăn với chồng một bữa, ngủ với chồng cả đêm “câu ca ngợi lên cảnh làm lụng bận rộn với công việc làm đậu phụ suốt cả ngày. Đậu phụ làm bằng đậu tương, nhưng là loại đậu được chọn cẩn thận. Đặc biệt kỹ thuật làm đậu rất công phu, có nhiều bí quyết, được chuyên môn hóa ở trình độ cao, nêm cái đậu khi làm ra phồng, trắng, mịn, có vị thơm, ăn ngon, không chua; do vậy người trong vùng rất chuộng loại đậu của người Giao Quang làm ra. Hàng ngày, người Giao Quang làm đậu mang đi bán khắp các chợ: Mỗ, Vạn Phúc, Ngải Cầu, Hà Đông, v.v. Nhiều khách hàng đến tận làng mua chọn cả gánh. Tuy nhiên, nghề sản xuất đậu phụ của Giao Quang vẫn chưa trở thành một nghề sản xuất chính trong cơ cấu sản xuất; Nhưng, cũng do có nghề làm đậu phụ, nên ở làng này phát triển mạnh về chăn nuôi lợn.
 
+ Nghề làm hàng xáo phát triển ở các làng, chủ yếu làm tranh thủ vào lúc sớm, đêm. Nghề này phát triển nhiều và làm khéo nhất vẫn là làng Giao Quang. Dân làng mua các loại lúa ngon, mang về xay, giã và sàng sảy sạch sẽ rồi đem đi bán ở nhiều nơi (Hà Nội, Hà Đông, trợ làng, trợ xã); nhưng bán nhiều và thường xuyên nhất vẫn là bán cho dân làng Phú Đô xã Mễ Trì để làm bún. Sau này, dân các làng thường hợp đồng nhận thóc của nhà nước về làm hàng xáo, trả gạo cho nhà nước, còn tận dụng được nguồn thu: tấm, cám, chấu, tiền công, làm khéo còn được dư ra một ít gạo lục.
 
Do có vị trí quan trọng nằm trong vùng Mỗ - La có nghề thủ công phát triển mạnh, rộng rãi ở nhiều làng xã. Đặc biệt, khi xâm lược và đã ổn định việc cai trị, thực dân Pháp đã lấy thị xã Hà Đông làm trung tâm khuyếch trương công nghệ, tiêu thụ hàng tiểu thủ công nghiệp. Trong những năm 1938 - 1939, thị xã Hà Đông đã trở thành nơi qui tụ tập trung các nghề tiểu thủ công. Nổi bật của sự qui tụ là “Nhà bảo tàng công nghệ” với trên 40 hộ có tay nghề giỏi, làm các nghề dệt, thêu ren, làm vàng bạc (cả tráng bạc, vàng trên giấy rất mỏng), đan lát, v.v. Vùng Mỗ - La có một số xưởng dệt, xưởng nhuộm, v.v của một số hộ tư sản mở ra, sản xuất bằng công cụ bán cơ khí, thu hút (thuê mượn) một số lớn thợ thủ công - là nông dân nghèo ở các làng xã và xung quanh đều làm khoán (trong đó hẳn có người xã Đại Mỗ). Chình vì vậy, ngành thủ công tuyền thống đã ảnh hưởng đến Đại Mỗ, và khá phát triển đếm mức tinh xảo, có thương phẩm, như: hàng đan tre, lứa, dệt, v.v.
 
+ Nghề đan có từ rất sớm, nổi tiếng ở Thôn Ngọc Trục. Các cụ kể rằng ngày xưa đã lâu nắm rồi, có một cụ già đi qua làng, thấy dân làng có thuần phong mỹ tục nên đã nói với người làng rằng: “Các ông muốn nghề gì?”, người làng đáp: “Chúng tôi muốn một nghề mà ai đi trông thấy cũng phải tránh”. Ông già suy nghĩ hồi lâu rồi dạy cho dân làng nghề đan bồ. Và nghề hàng nan của Ngọc Trục có từ đấy. Nhân dân Ngọc Trục có nghề đan bồ, đan phên nổi tiếng từ lâu đời do vị Tổ nghề là Công Thân Thị dạy cho. Xưa phường Bồ có tục cúng tổ vào tháng 2 và tháng 8 âm lịch. Cả làng đan bồ đi bán buôn cho các cửa hàng ở phố Hàng Bồ trong kinh thành Thăng Long.
 
Nghề đan đã trở thành chuyên môn hóa. Hàng năm cứ đến tháng 5 và tháng 10, xóm làng nhộn nhịp với công việc. Người thì đi mua tre lứa tận Dâu kẻ; người thì pha nan, vót nan; người đan ken bắt góc, cạp vành. Công việc của người làng đến tận khuya. Công dụng của chiếc bồ có nhiều. Bồ dùng để đựng thóc, đựng sách,.v.v. Người dân Ngọc Trục còn đan phên che chắn lò gạch, giá phên còn dùng để làm miến, tráng bánh đa; đan rổ, rá, dần, sàng, nong, nia, cót, thúng, mủng, v.v. Sản phẩm đan của Ngọc Trục từ xưa đã nổi tiếng xa gần, trở thành thương phẩm, được trao đổi rộng rãi trong các vùng lân cận. Ngoài công việc làm nghề đan tại nhà, từ xưa còn có nhiều người vót nan sãn ở nhà rồi mang đến chợ hoặc những nơi xa đan các đồ dùng tùy theo ý người đặt hàng. Có người đi tận Kẻ Sặt bên Hưng Yên để làm nghề đan lát phục vụ người tiêu dùng ngay tại chỗ. Nghề đan ngày nay tuy không còn được phát triển như trước; nhưng nhiều gia đình vẫn còn duy trì nghề truyền thống của làng mình.
 
+ Nghề dệt: từ xưa xã Đại Mỗ có nghề dệt nổi tiếng xa gần, nhất là làng Đại Mỗ. Theo truyền thuyết, khi còn nhỏ tuổi Nguyễn Quý Đức, người làng Mỗ đi chăn trâu, để trâu xuống phá mất một khu ruộng khoai của làng Cầu Đơ. Viên tri phủ đi qua đã bắt giữ trâu của Đức lại. Đức đến xin. Viên tri phủ thấy Đức trông dáng thông minh liền ra một câu đối và nói rằng đối được sẽ tha về, rồi viên tri phủ đọc rằng: “Khoai Đơ xanh tốt nhờ về phủ”. Đức nghe xong đối ứng khẩu luôn: “Lĩnh Mỗ vàng trơn bởi có nghề” *(* xem thêm vài nét về Nguyễn Quý Đức: con ngưòi, cuộc sống - văn thơ - luận văn). Như vậy, khả năng nghề dệt ở Đại Mỗ đã có từ trước thế kỷ 17.
 
Công việc dệt cửu đòi hỏi phải có công cụ sản xuất và nguyên vật liệu. Khung cửu xưa thường được làm bằng gỗ mành bề, dài khoảng 4 thước, trông thô.
 
Lĩnh lụa của Đại Mỗ được dệt rất khéo, trên mặt lụa nổi lên các hoa văn hình quần ngư (đầu cá), hồ điệp (bướm), phượng (chim phượng) và đi àn long (rồng vấn). Từ xưa, lĩnh và lụa của Đại Mỗ thường được đem vào bán ở các phố Hàng Ngang, Hàng Đào trong kinh thành Thăng Long. Dân làng Đại Mỗ cũng thường dệt lĩnh trơn, lĩnh trơn đem nghè đi cho bóng rồi gửi vào Huế, Sài Gòn để nhồi tía, thường dùng may quần phụ nữ. Lĩnh hoa may áo bông, áo kép rất đẹp, mặc ấm; thường là người khá giả hay mua loại áo này. Đầu thế kỷ 20, khi thành lập chợ Hà Đông thì lĩnh lụa Đại Mỗ được đem bán tại đây. Khách các tỉnh về tận làng để mua. Từ đấy lĩnh lụa Đại Mỗ được chở đi đem bán tận các thị trường lớn trên thế giới.
 
4. Thương mại: Nền sản xuất kinh tế hàng hóa và lưu thông hàng hóa ở Đại Mỗ có mầm mống phát triển khá sớm. Chợ Mỗ là trung tâm kinh tế góp phần điều tiết các sản phẩm dư thừa của người dân giữa các làng với nhau. Theo các tư liệu còn lại của địa phương thì, vào đầu thế kỷ thứ 18, Nguyễn Quý Đức đã công hiến 4 (bốn) mẫu ruộng để lập chợ Mỗ, bà Hiếu vú nuôi của Nguyễn Quý Đức cúng hơn 1 (một) mẫu để mở rộng chợ, làm chỗ buôn bán trâu bò (Vì vậy, chợ Mỗ còn gọi là chợ trâu). Đầu thế kỷ 20, chợ Mỗ có quy mô lớn và nổi tiếng trong vùng. Chợ Mỗ mở phiên chính vào ngày mồng 2, mồng 7; phiên phụ họp ngày mồng 4 và mồng 9 âm lịch (ngày nay thường họp hàng ngày; nhưng phiên chính thì, chợ họp đông hơn, nhiều loại hàng hóa).
 
Lúc đầu, người dân trong xã đem các nông sản thừa, các sản phẩm thủ công đi bán tại các chợ trong làng, xã (chợ Mỗ, chợ Mỗ chiều), trong vùng (Hà Đông, v.v). Về sau, xuất hiện một số người buôn chuyến đi các nơi xa. Nghề buôn chuyến phát triển ở các làng gần chợ Mỗ, chợ Chiều nằm ven đường 70, có vị trí đi lại giao lưu thuận tiện với các vùng gần xa (Hà Nội, Hà Đông, Thanh Oai, Thạch Thất, v.v). Từ Chợ Mỗ, các nhà buôn chuyến mua lại các mặt hàng được đem từ các làng trong xã, như: đậu phụ, đồ đan, vải, lụa, v.v rồi đem đi bán ở các nơi trong Kinh Thành, Hà đông, các tỉnh, sau sang cả nước ngoài (như sản phẩm dệt).
 
Mặc dù đã trải qua một thời kỳ dài phát triển, với sự tồn tại của nhiều ngành khác nhau, nhưng cho đến trước Cách mạng tháng 8/1945, nền sản xuất truyền thống của các cư dân Đại Mỗ nhìn chung vẫn là nền sản xuất nông nghiệp, nền sản xuất “nông vi bản”, lấy trồng trọt làm cơ sở chủ đạo. Trong hoạt động sản xuất ở Đại Mỗ, mối quan hệ giữa trồng trọt với chăn nuôi, với thủ công nghiệp và trao đổi hàng hóa có quan hệ thúc đẩy phát triển kinh tế. Do điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, thiên tai, sâu bọ, dịch bệnh liên miên, người dân Đại Mỗ không có cách gì khác là lấy trồng trọt làm hoạt động sản xuất cơ bản. Chăn nuôi, thủ công nghiệp và trao đổi hàng hóa tuy có tồn tại (thậm trí tồn tại nhiều thế kỷ) nhưng vẫn luôn phụ thuộc vào trồng trọt, bổ trợ cho trồng trọt; vì vậy, khó tách khỏi trồng trọt để trở thành ngành sản xuất độc lập (chỉ sau này, khi có chính sách chỉ đạo, hỗ trợ của nhà nước, thì nghề thủ công, nghề chăn nuôi nhất là lợn mới phát triển thành nghề chuyên môn hóa cao, trở thành ngành sản xuất độc lập, có quy mô sản xuất lớn, chiếm cơ cấu và tỷ trọng cao trong hoạt động kinh tế của xã). Cơ cấu sản xuất trồng trọt - chăn nuôi - thủ công nghiệp - trao đổi hàng hóa đã tồn tại từ nhiều đời, là một đặc tính của nông thôn Đại Mỗ. Nghiên cứu về điều kiện và đặc điểm đó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Đại Mỗ trước đây và ngày nay, nhất là khi nông nghiệp trồng trọt đang dần bị thu hẹp rất nhanh chóng sẽ giúp cho Đại Mỗ xác định đúng đắn cơ cấu và chiến lược phát triển kinh kế trên địa bàn Đại Mỗ.
 
III. TRUYỀN THỒNG HIẾU HỌC VÀ KHOA CỬ:
 
Nhân dân Đại Mỗ có truyền thống hiếu học, được nhắc nhiều trong thư tịch, được người dân từ nhiều miền biết đến trong” tứ tổng danh hương” (Mỗ – La – Canh – Cót). Trong thời kỳ đất nư­ớc độc lập tự chủ, đặc biệt từ thời Lê Sơ, khi đạo nho trở thành quốc đạo và Nho Giáo trở thành nội dung bắt buộc trong các kỳ thi tuyển dụng nhân tài cho đất nước; thì việc học chữ nho trở thành nhu cầu của mọi thế hệ. Dù liên tục hay gián đoạn, làng nào trong xã cũng có vài nho s­ư mở các lớp dạy học, nhiều gia đình nghèo con em cũng đ­ược theo học, trong các làng ít nhiều đều có người biết chữ Hán, tiếp thu được đạo đức thánh hiền. Các khóa sinh sau khi học các thầy đồ làng, tiếp tục “tầm sư, học đạo”, đi tìm các danh nho để xin thụ giáo. Để khuyến khích việc học, hương ước của từng làng đều có điều khoản khuyến học. Làng nào cũng có phe Tư văn *(* tổ chức của những người có trình độ từ biết chữ trở lên đến những người đỗ đạt). Phe Tư Văn được cấp ruộng (hoặc làng giành riêng một số ruộng), gọi là ruộng tư văn hay ruộng học điền. Đến trước cách mạng tháng Tám, Ngọc Trục giành 4 mẫu học điền cho 4 giáp trong làng, Giao quang giành 2 sào về việc mời thầy dạy học, v.v. Hoa lợi từ ruộng học điền được dùng vào việc cúng tế nơi văn chỉ, giúp đỡ học trò nghèo và nuôi thầy đồ dạy học. Trọng thầy là biểu hiện của truyền thống hiếu học, là đạo đức ứng xử của người dân vùng Mỗ; “không thầy đố mày làm nên” và “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Bởi thế, trong ba ngày tết thì “Mùng một lễ cha, mùng hai lễ mẹ, mùng ba lễ thầy” * (* Theo quan niệm của xã hội thời xưa, đối với mỗi con người, cao quí nhất là vua, thứ hai là thầy, rồi đến cha - đó là đạo tam cương: Quân, sư, phụ). Tổ chức “Hội đồng môn” có ở tất cả các làng trong xã, bao gồm những học trò từng học một thầy, hội lập ra nhằm động viên, khuyến khích, thi đua nhau học hành và thực hiện các nghĩa vụ đối với thầy học: “Sống tết, chết giỗ “.
 
Do có truyền thống hiếu học, lại thuộc vùng đất ven kinh thành Thăng Long văn hiến, nên Đại Mỗ cùng với La, Canh, Cót từng nơi nổi tiếng có truyền thống khoa cử trong tứ tổng danh hương. Trong dân gian có câu: “Nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh, Cót”.
 
Theo khoa chế trong thi cử của các triều đại phong kiến Việt Nam, từ nhà Trần trở về sau, những người đỗ đạt trong các kỳ thi được chia làm nhiều học vị, thứ tự từ thấp đến cao lần lượt là tú tài, cử nhân, tiến sĩ. Đỗ tiến sĩ được gọi là đỗ Đại khoa *(* + Khởi đầu từ thời hậu Lê, hiệu Chính Hoà năm thứ ba, mở khoa thi Tiến sĩ; Còn trước ngày mở khoa thi Tiến sĩ, thì có các khoa: khoa thái học sinh, khoa minh kinh bác sĩ, tất cả đều như thế cả; Cũng có chế khoa thì bất thời, đặc biệt, khi đặt ra ân điển với Tiến sĩ đồng hạng; Tất cả gọi là Đại khoa lục. Riêng, từ khoa đông các, thì chia thành Tam khôi, coi như ưu tú của Đại khoa.
 
+ Các khoa: hoành từ, sĩ vọng tuyển hoặc cử, khi đặt ra coi như để khuyến khích các danh sĩ khi thi Hội có ứ đọng chưa đạt được nguyện vọng danh đồ; cả 3 khoa này, đều coi như kém Đại khoa.
 
+ Về thi Hương, nếu trúng cả tứ trường, thì đạt loại Hương Cống (Công Cống). Nhưng, cũng có vị đã đỗ Hương Cống, sau lại tham gia thi Hội, trúng tam trường, thì đều có chú ở dưới là Hội tam trường.
 
+ Các vị thi Hương, khi trúng tam trường gọi là Sinh đồ.
 
+ Từ quốc triều đến nhà Nguyễn, các khoa trước sau: Tất cả các vị Tiến sĩ và Phó bảng đều gọi là Hội khoa; Cử nhân và Tú tài gọi là Hương khoa).
 
Rất tiếc, trong suốt thời nhà Hậu Lê (1428 - 1788) đến hết triều Nguyễn, do hạn chế về tài liệu, nên không biết được số rất nhiều người ở Đại Mỗ đỗ đạt, góp phần cung cấp một đội ngũ những nhà khoa bảng có tài, có đức cho đất nước. Mà chỉ biết được từ Khoa thi Giáp Tuất năm 1514, đời Tương Dực Đế năm thứ 6, đến khoa thi Kỷ Đậu, niên hiệu Duy Tân thứ 3, thì Đại Mỗ *(* theo sách “Từ Liêm Đăng khoa lục”) có 27 người đỗ đạt các hạng bậc khoa trường từ tú tài, cử nhân, tiến sĩ *(* Hồ sơ xếp hạng các di tích – lịch sử văn hoá của xã: Đại Mỗ ghi 18 vị đỗ tiến sĩ), điển hình cho truyền thống khoa cử ở Đại Mỗ.
 
I. HƯƠNG KHOA, có 13 vị: 1. Nguyễn Quý Hành, đỗ năm Vĩnh Thịnh triều Lê, làm quan lang trung bộ hình, là con thứ hai của cụ Thám hoa Quý Đức, là em Hoàng giáp Quý Ân. 2. Nguyễn Quý Tuân, đỗ đời vua Cảnh Hưng, tri phủ Thiên Trường, con ông Quý Thận. 3. Nguyễn Quý Thiếp, đỗ đời vua Cảnh Hưng, quan thiên tri công phiên, em ông Tuân. 4. Nguyễn Quý Thứ, đỗ khoa Đinh Mão, Cảnh Hưng, 2 lần hội tam trường, văn bia tại nhà thờ Tiến sĩ làng An Lũng là Nguyễn Thế Lịch, có chép: Năm 21 tuổi ông trúng hội tam trường, ấn phong triều liệt đại phu, buổi mới đầu chức hồng lô tự thừa, rồi giảng Đông cung, xung làm thức trị nội thư, tả công phiên, thăng lại bộ lang trung, rồi ban tiến triều (năm Tân tị) hàn lâm hiệu thảo là giám sát ngự sử, từng trải giữ chức Tham đồng đề, lĩnh chức phụng thiên Phủ doãn, Sơ tây đốc đồng, Kinh bắc tham chính; năm Quý mão được triệu lên trầu bẩy vua, được vua hài lòng, vua khen là trung hậu, ban là chức đốc đồng Kinh bắc, thăng hàn lâm thị giảng, trải thăng chức thưa chỉ, sau buổi quốc biến lui về đồng ruộng. Lúc ấy, ông 69 tuổi, thuỵ là Điểm Chính, con ông Quý Kính. 5. Nguyễn Quý Ý, đỗ ất dậu, Cảnh hưng thứ 18, thi một lần trúng ngay. Âm hiển cung đại phu, nâng thiên tri Lai Phiên, lễ bộ tư vụ, thăng Phó trị hình thiên, đến thời Gia Long thứ 3, trao tri phủ Am. ông thọ 60 tuổi, thuỵ Minh Huy, cháu ông Quý Kính, con trưởng ông Nguyễn Quý Thứ. 6. Nguyễn Quý Nhạ, đỗ Cảnh Hưng, cong ông Nguyễn Quý Thứ. 7 Nguyễn Quý Bằng, đỗ Cảnh Hưng, tri huyện An Lãng, chắt cụ Thán hoa (Nguyễn Quý Đức). 8 Nguyễn Quý Đễ, đỗ Cảnh hưng, em ông Nguyễn Quý Bằng. 9 Nguyễn Quý Mậu, khoa Tân sửu Cảnh hưng, hội trúng tam tràng, con thứ tư của cụ Nguyễn Quý Kính, ấm hoằng tín đại phu, hồng lô tự thừa, khi nước có biến, thì cụ về hưu. 10 Nguyễn Quý Thông, khoa Tân mão Cảnh hưng, hội tam tràng, cháu thứ năm của Nguyễn Quý Kính, ấm hoằng tín đại phu, tri phủ, khi nước loạn về điền viên. 11 Nguyễn Gia Triệu, khoa Đinh mão, Cảnh Hưng, tri huyện Tam Nông. 12 Nguyễn Gia Tích, khoa Kỷ dậu, tri huyện Bất Bạt. 13.Nguyễn Gia Thành, khoa Giáp Tý. 12. Sinh đồ Nguyễn Phúc Chỉ, bố của Nguyễn Quý Đức.
 
II. KHOA SINH ĐỒ 01 VỊ: Nguyễn Phúc Chỉ, thân sinh ra Thám hoa Nguyễn Quý Đức, ông mở đầu từ khoa tường sinh, nên tặng quan Thám chính Kinh bắc, gia tặng đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, ngự sử đài đô ngự sử, khánh miên hầu, v.v.
 
III. HƯƠNG KHOA CHÍ, CÓ 6 VỊ:
 
a. Khoa Quý dậu, năm Gia Long thứ 12; hạng Sinh đồ có 2 vị: 1. Nguyễn Qúy Nguyên. 2. Nguyễn Danh Giáp, hộ bộ thị lang, kiêm Nhâm thiên giám, do văn hàn tuyển vào.
 
b. Khoa Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2; hạng Sinh đồ có Nguyễn Quý Đăng – là cháu Nguyễn Quý Thứ.
 
c. Khoa Mậu tý, triều Minh Mệnh thứ 9; hạng Cử nhân, có Nguyễn Quý Luyến, quan nội vụ chủ sự, là em Tiến sĩ Hoàng Tế Mỹ - xã Đông Ngạc.
 
d. Khoa Giáp ngọ, triều Minh Mệnh thứ 15; hạng Tú tài có Nguyễn Quý Bưu.
 
e. Khoa Tân dậu, triều Tự Đức năm thứ 14; hạng Cử nhân, có Nguyễn Trọng Kỳ, do ấm sinh ở giám, thi gửi tại trường thừa phú, đỗ làm Hậu bộ Bắc Ninh).
 
Trong số những người đăng khoa, một số người hiển danh, đỗ Tiến sỹ, thuộc Đại vương tước: Nguyễn Vũ, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân, Nguyễn Quý Kính, Nguyễn Quý Thân, và Đỗ Thế Giai (con rể cư trú ở Đại Mỗ).
 
Nguyễn Vũ được coi là người khai khoa đầu tiên ở Đại Mỗ. Trước ông đậu hương cống, có tài về viết thảo; khi vua khởi nghĩa, ông đi đầu hưởng ứng, làm quan đến Binh bộ tả thị lang, rất được vua yêu mến. Năm 58 tuổi đỗ Nhị giáp tiến sĩ năm Giáp Tuất (1514), đời Tương Dực Đế thứ 6. Khoa ấy, ông xếp bậc đầu bảng, được phong hình bộ Thượng thư, Hàn lâm Viện đại học sĩ, hàn lâm thừa chỉ vào trầu tại kinh điện. Khi Trịnh Duy Sản thí nghịch, ông nghe biến, khảng khái bảo con rằng: đã ăn lộc nhà vua, nên phải chết với nạn vua, vội vã đi ngay, để đối phó; đời khen ông là một bậc tiết nghĩa.
 
Nguyễn Quý Đức, là con trai thứ 2 của vị Sinh đồ Nguyễn Phúc Chỉ. Ông sinh năm Mậu Tý (năm 1648), mất năm Canh Tý (năm 1720). Từ nhỏ, Nguyễn Quý Đức nổi tiếng là người ham học, học giỏi, thông minh, ứng xử nhanh, được ca ngợi là kỳ đồng *(* Tương truyền, khi còn nhỏ, Nguyễn Quý Đức đi chăn trâu, để trâu xuống phá mất một khu ruộng khoai của làng Cầu Đơ. Viên tri phủ đi qua đã bắt giữ trâu của Đức lại. Đức đến xin, viên tri phủ thấy Đức dáng thông min, liền ra một câu đối: “Khoai Đơ xanh tốt nhờ về phủ”, và nói rằng nếu đối được sẽ tha. Đức nghe xong, liền ứng khẩu đối luôn: “Lĩnh Mỗ vàng trơn bởi có nghề “). Năm 16 tuổi ông đỗ khoa Hương tiến – năm Quý Mão, niên hiệu Cảnh Trị nguyên niên; 22 tuổi đỗ Hoành từ - năm Canh Tuất; Năm Bính thìn - kỳ đệ tứ (thứ 4), thi hội đối sách đậu Đình nguyên; 23 tuổi đỗ Nhất giáp Thám hoa khoa Bính Thìn (năm 1676); 29 tuổi đậu Đình nguyên. Gắn với cuộc đời khoa cử, Nguyễn Quý Đức là nhà chính trị, trị nước yên dân, nhà ngoại giao có tài. Ông đã lần lượt giữ các chức vị: nhập nội văn chức, Hàn lâm đãi chế, Đốc đồng Cao Bằng, bồi tụng, Sự trung Bộ lễ, Thiên đô ngự sử, Chánh sứ Bộ cống, tước Liêm đường Nam, Tả thị lang Bộ lại, Đô ngự sử đài, Hữu thị lang; rồi Hữu thị lang Bộ lại, Từ đó, ông được dự việc cơ mật quốc gia, kiêm sung chức phụ tá cho các vị Vương triều, Bộ hộ tả thị lang, Đô ngự sử đài, binh Bộ Thượng thư – “Quần liên thủ” (đứng đầu bách quan) lúc này ông 61 tuổi, kiêm Tri quốc tử giám; Thượng thư Bộ hộ, Tước hầu, kiêm Đông các Đại học sĩ; Thiếu phó, Tá lý Công thần; Thượng thư Bộ lại, tiến tước Liên quận Công. Khi về hưu nhàn (năm 70 tuổi), vua chuẩn chức Thái phó quốc lão, được tham dự triều chính. Nguyễn Quý Đức còn là một nhà giáo dục, nhà sử học có tài. Khi giữ chức quốc tử giám, ông luôn chăm no tới việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ nhân tài cho đất nước. Nguyễn Quý Đức và Lê Hy viết tiếp bộ “Đại việt sử ký tục biên”. Cùng với bộ sử lớn này, nhiều tác phẩm thơ văn của ông còn được lưu lại ở đời.
 
Nguyễn Quý Đức là người thanh liêm, dản dị, ít lòng tham muốn. Suốt 20 năm trong cơ mật;10 năm ở trọng chiếu quỹ phạm của nhà nước, 10 năm ở nơi giảng đạo học nhà vua mà chưa từng lươn khươn. Văn chương của ông không dùng lối chạm rũa, nhưng ý tứ tinh sáng, mật thiết. Mọi văn bản chế tác của triều đình, phần nhiều tự tay ông làm. Văn bia dựng năm 1741 tại nhà thờ Nguyễn Quý Đức, do Hà Tông Huân - Bảng nhãn khoa Giáp Thìn (năm 1724) soạn thảo, có viết: Ông nhận chức Tể tướng xét rõ các việc tà khúc, giải quyết những việc trì trệ, v.v. Ông khoan nhượng, liêm khiết, ăn uống thanh đạm, có tài văn học. Những văn kiện quan trọng của triều đình, đều do tay Ông thảo. Thơ của Ông cũng được xem là cây bút tuyệt xướng, v.v. Ông nắm giữ chức vụ then chốt giúp nước, giúp dân. Đương thời có câu khen “Tể tướng Quý Đức, thiên hạ hưu túc” (Quý Đức làm tể tướng, thiên hạ được yên vui) thiên hạ thái bình”. Vì vậy, vua thường nói với kẻ thị thần rằng: người ấy đủ tài văn học, tài trí, đời này hiếm có. Khi về trí sĩ, Nguyễn Quý Đức sống như người dân, mặc quần áo nâu, đi thăm đồng, bàn chuyện cày cấy với nông dân. Gặp những việc bất hoà trong làng xóm, Ông đều đến giải hoà. Thấy làng còn nhiều thủ tục trong hội hè đình đám, ma chay, cưới xin, ông đứng ra dự thảo hương ước giảm việc ăn uống, xây dựng nếp sống thanh bạch, vệ sinh xóm làng. Ông làm nhiều việc công đức cho dân; được vua cấp 30 mẫu ruộng lộc điền, ông đã dành 3 mẫu để mở rộng chợ Mỗ, số ruộng còn lại chia đều cho các giáp trong làng cầy cấy. Ông còn đầu tư tiền trùng tu chùa Quỳnh Lâm, làm cầu Thiên Khánh bắc qua sông Nhuệ cho dân tiện việc đi lại *(* Xem thêm “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú).
 
Khi ông mất (Năm Canh tý, đời Bảo Thái, tuổi ông 73, mất tại nhà riêng), được truy tặng chức Thái Tể và sắc phong: “Cung thuần tuấn đạt Đại vương, truy Đẳng phúc thần” (Năm Giáp thìn Vĩnh Hựu thứ 2). Dân làng thương tiếc, nhớ công lao, đã tôn ông làm Thành Hoàng làng.
Nguyễn Quý Ân là con Nguyễn Quý Đức. Lúc trẻ là người dĩnh ngộ, khi 6-7 tuổi đã thông hiểu luật làm thơ. Năm 21 tuổi đỗ Hương cống - khoa Nhâm Thân - niên hiệu Chính Hoà thứ 11; năm Đinh Sửu đậu thứ 4 thi hội chúng tam trường, lấy liền sĩ vọng thứ 2; năm Quý mùi lại chúng hội tam trường; năm Nhâm Dần tái chúng sĩ vọng thứ 2; năm Nhâm Dần thi hội tái chúng tam trường; khoa Ất Mùi thi Hội chúng thứ 13, thi Đình chúng thứ 2 - Nhị giáp tiến sĩ  (lúc này ông 43 tuổi).
 
Nguyễn Quý Ân là một nhà chính trị, ngoại giao có tài. Ông lần lượt giữ các chức vị: nhập nội văn chức; Hồng lô tự khanh; nhập nội giảng phiên; Thông chính tư; Thông chính Phó sứ; Hàn lâm hiệu uý, Tri thị nội thư tả binh phiên; chức bồi tụng; Hữu tư giảng; Đề hình giám sát ngự sử; năm canh tý thời Bảo thái năm đầu, ông được xếp hạng giữa trong hạng bách quan; 50 tuổi, tặng Thiêm Đô ngự sử, thuỵ ôn cẩn; đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, hình bộ tả thị lang, diễn Quận Công, lại tặng Công bộ thượng thư thiếu bảo.
 
Khi ông mất, được sắc phong là trung thần, đoan chính quốc sư, thông nghị đại vương, trung đẳng phúc thần, và cấp cho bản xã nhân dân làm các người tạo lệ.
 
Nguyễn Quý Kính (Nguyễn Quý Cảnh) là con Nguyễn Quý Ân. Lúc đầu đỗ hương cống; khoa Giáp Ngọ đời Lê Vĩnh Thịnh đỗ Tiến sỹ. Ông là người khảng khái cương trực, giỏi cả văn, thi thông chính trị điển sự, là người phó tá tài ba đức độ. Lúc đầu, ông làm quan ở phiên. Sau lần lượt giữ các chức vị: được vào tiến vào triều, làm chức tự khanh, coi việc hộ phiên, vào giảng học cho em chúa là Ân quốc công; Tham tụng; Thượng thư Bộ binh, Thống quận công; kiêm chức đốc phủ ở Sơn Tây, thống lĩnh việc quân; chiêu phủ sứ (đi các đạo khuyên dân làm ruộng, trồng dâu và chiêu dụ những người phiêu tán trở về); Thượng thư Bộ hộ, hàm thái tử thái phó, gia đại tư mã; ông thuộc bậc Ngũ lão giúp chúa.
 
Năm 75 tuổi *(* có tài liệu ghi 74 tuổi), ông mất, được phong tặng Đại tư đồ, Huyên trung công, truy phong phúc thần; đến triều Minh Mệnh thứ hai, phong thêm bốn chữ “Lương bật chi thẩn”. Ông được Vua gia cấp cho dân 5 xã thờ cúng *(* + Sách lịch triều hiến chương loại chí chép rằng: Nguyễn Quý Ân do chân hương cống được làm quan ở phiên. Đến đời Long Đức được tiến vào triều, nhưng làm chức tự khanh, coi việc hộ phiên, vào giảng học cho em chúa là Ân quốc công. Cuối niên hiệu Vĩnh Hựu, Toàn Vương (Trịnh Giang) mắc tật phải ở riêng, quan hoạn là bọn Hiệp quận công (tức Hoàng Công Phụ) chuyên quyền, việc triều chính hỗn loạn. Quý Ân bí mật phụng chỉ Thái phi, khuyên em chúa tạm quyền dẹp nạn;Trịnh Doanh từ chối không nghe. Ông mới bí mật cùng Nguyễn Công Thái quê Kim Lũ quyết định mưu kế. Mùa xuân năm Canh thân (1740), nhân quận công đi vắng, Ông mới thu hết các binh lính ở kinh kỳ cho sung vào đội bảo vệ, rồi bày mưu lấy ngày khai ấn đầu năm thì khởi sự. Việc ấy được tâu lên vua Lê, xin cho sắc dụ. Đến hôm ấy, Ông đi theo Trịnh Doanh đến triều, Nguyễn Công Thái đọc sắc dụ, còn Ông thì phò Trịnh Doanh lên ngôi chúa. Lúc ấy mới ban lệnh mới, bắt đảng nghịch, trong triều đình cung cấm nhờ thế được yên lặng. Bấy giờ, nạn trong vừa yên, mọi việc đều do Ông sửa định, chúa bảo Ông ở luôn trong phủ, đêm ngày bàn xét việc chính: trong thì hầu ở chỗ màn trướng, ngoài thì trù tính việc quân. Khoảng mươi ngày thì mọi việc đều đâu ra đó. Trong việc gỡ rối trấn định tình thế, ông có nhiều công lao. ít lâu sau, chúa cho Ông vào làm tham tụng, thăng lên chức Thượng thư Bộ binh, Thống quận công. Năm Tân Dậu đời Cảnh Hưng (1741), ông kiêm chức đốc phủ ở Sơn Tây, thống lĩnh việc quân. Bấy giờ, bốn phương nhiều giặc giã. Triều đình lấy quan tước để thưởng những người có công, đám ưu binh (lính lấy ở Thanh Nghệ, được biệt đãi) yêu sách quá mức, Ông bác đi không nhận. Họ bèn rủ nhau đến phá nhà Ông. Ân vương sai tra xét bắt bọn cầm đầu giết đi, từ đó ông hết sức dấu tài kín tiếng ẩn náu, giả có bệnh, xin thôi chức quan tụng. Chúa không nghe, vẫn cho hưởng lộc và địa vị như cũ, lại sai làm việc ở Bộ lại. Ông cố từ, nhưng không cho từ. Mùa đông năm ấy, chúa sai ông cùng với Thượng thư Vũ Công Tể, làm chiêu phủ sứ, chia đi các đạo khuyên dân làm ruộng, trồng dâu và chiêu dụ những người phiêu tán trở về. Mùa xuân Nhâm Tuất (1742), ông bầy tỏ với chúa việc mình bị nhiều người hiềm thù ghen gét, xin thôi làm những việc trọng yếu. Mùa hạ Quý Hợi (1743), chúa lại bảo ông vào làm tham tụng, ít lâu sau thăng Thượng thư Bộ hộ, hàm thái tử thái phó, gia đại tư mã, cho về hưu. Sau lại gọi ra làm bậc Ngũ lão hầu chúa). Gia đình ông, cả ba ông cháu (Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân và Nguyễn Quý Kính) cùng đỗ đạt, cùng nối ngôi là sứ phó (thày vua), cùng nối ngôi làm phúc thẩm, thiệt là từ xưa tới nay, người đời ít nghe thấy vậy.
 
Nguyễn Gia Phan - tức Nguyễn Thế Lịch, quê Dưỡng An, huyện Từ Liêm, ông lấy con gái Nguyễn Quý Kính, sau đó ông về Đại Mỗ sinh sống. Năm Quý Mùi (năm 1775) đời Vua Cảnh Hưng, Ông đỗ tiến sĩ, làm quan tới chức Bồi tụng (Phó Tể tướng). Ông còn là thầy thuốc nổi tiếng, chuyên chữa bệnh và bào chế thuốc phòng dịch có hiệu nghiệm. Ông viết nhiều sách thuốc, phổ biến cách chữa bệnh cho dân. Khi Quang Trung thống nhất đất nước, ông được mời ra làm quan, giữ chức Lại Bộ Thượng Thư kiêm Thái y Viện phục vụ suốt triều vua Cảnh Thịnh (1793 - 1802). Năm 1803, Gia Long chiếm lại Bắc Hà, đã cho người về bắt ông cùng với các đại thần triều Tây Sơn như Ngô Thì Nhận, Phan Huy ích, v.v đem ra Văn Miếu đánh đòn trả thù. Khi được tha, ông Phan về Đại Mỗ vẫn tiếp tục đi theo nghề làm thuốc chữa bệnh cho dân. Về sau Gia Long có mời ông vào Huế chữa bệnh cho Hoàng Thái Hậu rồi mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối và sống cuộc đời thanh thản ở quê cho đến khi qua đời.
 
IV. TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ VÀ CƠ CẤU XÃ HỘI:
 
Trong quá trình lập làng, giữ làng bằng lao động, trong lao động và đấu tranh, ng­ười dân Đại Mỗ, Ngọc Trục, An Thái và Giao Quang đã tạo dựng và giữ gìn cho mình những di sản kiến trúc văn hoá tạo hình có giá trị *(* 1. Đình Đại Mỗ xếp hạng ngày 21 / 6 / 1993; 2. Chùa Trùng Quang xếp hạng ngày 21 / 6 / 1993;  3. Nhà thờ họ Nguyễn Quý xếp hạng ngày 12 / 02 / 1986; 4. Chùa Ngọc Trục xếp năm 1992; 5. Chùa Linh Thông; 6. Chùa Linh Quang; 7. Chùa Phúc Lâm ; 8. Đình Giao Quang ; 9. Đình An Thái; 10. Đền thờ Đào Trực;  11. Đền thờ Ả Lã Nàng Đtrong; 12. Đình Ngọc Trục), góp phần làm giàu thêm kho tàng di tích lịch sử - văn hoá của mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.
Đình, chùa không những có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo, nơi gặp gỡ, nơi thể hiện những mối quan hệ, cách cư xử giữa người với người không chỉ trong các dịp lễ hội của làng. Dân làng đến với di tích mang theo niềm tin, hy vọng và niềm vui. Các ngôi đình Ngọc Trục, Đại Mỗ, Giao Quang và An Thái đều được xây dựng từ lâu. Mỗi ngôi đình đều mang nét đặc sắc riêng của mỗi làng. Tuy những di tích này đã qua nhiều lần tu sửa ta còn thấy những phần kiến trúc đời Lê, Nguyễn đan xen vào nhau.
 
Đình Ngọc Trục xây dựng từ đời Lê trên một khu đất rộng, trông ra dòng sông Nhuệ. Căn cứ vào tấm bia “Bản thôn tự sự bi ký” có niên đại Vĩnh Trị thứ 7 (1676) thì biết răng đình làng có từ trước đây. Trước cửa đình Ngọc trục là một giếng nước xây hình lục lăng. Tiếp giáp với nhà tiền tế là phương đình (nhà vuông). Phương đình được xây theo kiểu chồng diêm (hai tầng mái). Mái lợp ngói mũi hài cổ. Bờ nóc mái thượng đắp nổi đôi rồng chầu mặt nguyệt, bốn đầu đao là bốn hình rồng đắp nổi, đầu rồng hướng vào nóc mái.
 
Những nét trang trí trên các bức gỗ trong nhà phương đình tập trung vào các đề tài tứ quý, tứ linh. Nhà tiền tế 5 gian; hậu cung đình nối liền với gian giữa nhà tiền tế chạy dọc về phía sau tạo thành hình chữ đinh. Mái nhà tiền tế và hậu cung đều lợp bằng ngói cổ mũi hài. Kiểu kiến trúc và cách trang trí trong nhà tiền tế mang tính chất đậm nét nghệ thuật đời Lê. Đề tài trang trí là các hình trạm hổ phù, trúc, mai.
 
Đình Ngọc Trục thờ các nhân vật tướng tài nổi danh trong lịch sử. Đó là nữ tướng Ả Lã Nàng Đệ, Đào Trực tức Đào Thế Tiên, và tam vị Đại vương đều là những danh tướng.
 
Bà Ả Lã Nàng Đê quê làng yên Lộ (nay là xã Yên Nghĩa huyện Hoài Đức). Năm bà 20 tuổi, thì vận nước bị quân xâm lược nhà Hán đánh chiếm. Hưởng ứng lời hiệu triệu của nữ tướng Hai Bà Trưng, Ả Lã Nàng Đê đã cùng em trai chiêu mộ được hơn 500 nghĩa sĩ; hai chị em dẫn quân theo Hai Bà Trưng đánh giặc. Sau đó nhà Hán đã sai Mã Viện đem viện binh đến. Cuộc chiến đấu không cân sức, hai chị em Bà Trưng đã hy sinh.
 
Tưởng nhớ người có công đánh giặc cứu nước, dân các làng trong huyện Từ Liêm, đình các làng Đại Mỗ, Giao Quang, An Thái đều thờ Ả Lã Nàng Đê làm Thành Hoàng; hàng năm đến ngày mồng 6 tháng giêng, dân làng thắp hương tưởng nhớ.
 
Đình làng Đại Mỗ, An Thái, Giao Quang còn thờ cúng Thành Hoàng Thủy Hải Long Vương. Theo truyền thuyết, thì Thủy Hải Long Vương là một trong 50 người con trai của Lạc Long Quân theo cha xuống biển dạy dân làm nghề cấy lúa nước.
 
Chùa Quỳnh Lân Đại Mỗ, Phúc Lân Giao Quang, Linh Thông An Thái, Đại Phúc của Ngọc Trục đều là những ngôi chùa cổ, nơi các bậc khách tạo nhân thường đến vãn cảnh và thờ phụng. Những ngôi chùa này đã qua nhiều lần trùng tu sửa chữa. Chùa Quỳnh Lâm Đại Mỗ là ngôi chua cổ kính hơn cả. Căn cứ vào các dòng chữ khắc trên khánh đá thì chùa do Thái Úy Lý Thường Kiệt đứng ra xây dựng; Năm 1705, Đại vương Nguyễn Quý Đức bỏ tiền của trùng tu. Chung quanh chùa có nhiều cây cối âm u, rậm rạp. Hiện vật cổ trong chùa có nhiều khánh bằng đá được tạo năm Vĩnh Thịnh (1705). Các tấm bia hậu, bia ghi sự tích, bia ghi việc trùng tu dựng lại chùa đã góp phần phản ánh những khía cạnh về đời sống xã hội, kinh tế xa xưa của thôn nhà. Chùa Phúc Lâm của Giao Quang đươch trùng tu vào các năm Gia Long (1804), năm Minh Mệnh thứ 18 (1838) và năm Bảo Đại (1926). Tuy vậy, kiến trúc của chùa vẫn mang đậm nét đời Lê.
 
Các di tích trong xã Đại Mỗ còn lưu giữ được nhiều loại tư liệu quý: sắc phong (24 tấm) của các triều ghi nhận công lao của (các vị) Thành Hoàng; ảnh truyền thần từ thế kỷ thứ 18; bia ghi công tích của các vị Đại vương do các nhà khoa bảng đời Lê biên soạn; các pho tượng sắp xếp theo trình tự phản ánh lối tư duy không lời của nhân dân lao động; câu đối, hoành phi, văn bia, văn chuông, v.v.
 
Từ xưa, nhân dân Đại Mỗ có một đời sống văn hóa khá phong phú. Ngoài văn thơ bác học, dòng văn học dân gian phản ánh lời ca tiếng hát trong cuộc sống, ca ngợi quê hương, đúc rút kinh nghiệm sản xuất, v.v
 
*(* 1/. Hỡi cô thắt giải lưng xanh
Cô về Đại Mỗ với anh thì về
Quê anh có ruộng bốn bề
Có sông tắm mát có nghề cửu canh.
2/. Quay tơ thì giữ mối tơ
Quay năm ba mối để chờ mối anh.
Quay tơ rạ mặc ra mành
Mặc thời làm dọc manh thời dệt ngang
Mốt son thời dệt đầu hàng
Mốt cục đem bán cho nàng Đơ Thao).
 
Hàng năm, các làng xóm đều mở hội làng vào mùa xuân. Hội làng phản ánh tập tục, nề nếp mang tính cộng đồng và nghi thức của làng xã Việt Nam.
 
Mỗi làng của các thôn xóm Đại Mỗ mang sắc thái riêng của một làng sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp. Trong hội làng thường tổ chức các cuộc thi. Hội làng Đại Mỗ tổ chức Hội thi kéo lửa, hội làng Giao Quang thi nấu xôi thờ. Xôi thờ kẻ Quánh được chuẩn bị rất công phu từ khâu chọn gạo, lấy nước về ngâm, vo gạo, nấu xôi. Hạt xôi thừo được xới làm cỗ trông rất óng ánh như thủy tinh lại có vị thơm. Xôi thờ Giao Quang đã đi vào ca dao: “Cá sông Đôi, xôi thờ kẻ Quánh”.
 
Nhân dân Đại Mỗ có truyền thống thương yêu đùm bọc lẫn nhau khi tối lửa tắt đèn. Một gia đình nào khi gặp khó khăn thì hàng xóm giúm vào giúp đỡ. Khảo cứu những hương ước nói chung (hay khoán ước, qui ước) từ các hàng làng xã, hàng tổng xưa kia, ta thấy về tính cộng đồng cư dân tại một không gian cư trú khá ổn định về mặt tổ chức xã hội, sinh hoạt văn hoá gắn với tình trạng kinh tế nông nghiệp trước đây gần như tự cung tự cấp, gắn với một tinh thần tự tại, có sắc thái tín ngưỡng, tôn giáo (có đình, đền thờ thành hoàng làng, có chùa, nhà thánh, có miếu thờ thổ thần, nhà thờ tộc họ, v.v), gắn với những phong tục tập quán riêng, với những điều ước tự đặt ra nhưng lại mang tính cống đồng rất cao, trong đó đều thể hiện tất cả những gì tôn ty, trật trật tự, ứng xử hoạt động như một xã hội thu nhỏ: Về sử dụng đất đai, về quy định ứng xử thứ bậc trong làng, trong họ, trong gia đình, về trật tự an ninh, về việc hiếu, việc hỷ, việc lễ, việc học, v.v. Tất cả những việc đó, tuỳ thời, tuỳ cơ sự mà có sự điều chỉnh ứng biến cho phù hợp với phép nước, lệ làng.
 
Tục kết nghĩa giữa các làng (trong xã, trong vùng), với làng khác (như với Trung Văn) là nét đẹp trong truyền thống văn hóa của nhân dân Đại Mỗ. Tục lệ này nhằm đoàn kết hai hay nhiều làng lại với nhau, tạo sức mạnh lớn hơn để giúp đỡ nhau trong các công việc bảo vệ an ninh xóm làng hay xây dựng các công trình công cộng, v.v. Kết nghĩa các làng còn tạo mối liên hệ tình cảm, vui cùng chia, (họa hay) buồn cùng chịu. Rất nhiều sự kiện đã thể hiện mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau giữa các làng kết chạ.
 
Gắn bó với làng xóm, nhân dân Đại Mỗ luôn có ý thức tôn trọng kỷ cương, luật lệ của làng. Dưới chế độ phong kiến, mặc dù nhà nước đã có luật pháp rõ ràng, nhưng do tính khép kín và độc lập tương đối của làng xã, người dân về cơ bản vẫn sống theo lệ làng (lệ Tổng). Bởi thế, mới có câu “Phép vua thua lệ làng” và “Quan thì xa, bản nha thì gần”. Lệ làng được hệ thống và ghi chép trong hương ước riêng nói về lệ tục của làng.
 
Tập tục lệ làng có những mặt tích cực, nhưng cũng không tránh khỏi những hủ tục làm tiêu sa công sức của cải của nhiều người. Đó là hai mặt của mối quan hệ theo tuyến dọc (phép nước chi phối) và tuyến ngay (hương ước quy định), nếu cùng làm tốt, làng xã thêm bền vững.
Bản hương ước của làng Đại Mỗ soạn năm Duy Tân thứ 4 (1910) phản ánh khá đầy đủ các khía cạnh kinh tế, chính trị, xã hội của làng xóm. Các điều tục luật lệ được ghi chi tiết. Đủ biết thời xưa lệ làng phép nước rất nghiêm ngặt. Ai vi phạm những quy định của làng đều phải chịu phạt.
 
+ Về lệ khao vọng, Mục 3 quy định:
 
- Lễ tại đình sở: “Xã Đại Mỗ trong tổng Đại Mỗ, hễ có vị nào thi đỗ làm quan, thì khao vọng giống lệ đối với thủ chỉ, phải sắm biện 1 con gà không kể to nhỏ, 4 mâm xôi cỗ mâm đáng giá 5 hào bạc, 10 vò rượu, 1 buồng cau, 400 vàng mã đem đến đình sở, trước là yết lễ thần linh, rồi để đãi đồng dân cùng uống rượu.
 
- Lễ tại văn chỉ: Đồng thời sắm lễ đến tế tiến tại văn chỉ. Lễ gồm: 1 con lợn giá phỏng 5 đồng bạc; còn các đồ lễ xôi, rượu, cau, vàng mã cũng giống như trên, cộng thêm 4 quan tiền đồng. Sau khi lễ xong, kính mời toàn thể giáp văn hội cùng uống rượu. Xong xuôi, lại mời các vị về nhà uống, mỗi cỗ 5 người. Các khoản xong xuôi, đồng dân tôn bầu làm thủ chỉ.
 
- Khi thi đỗ Cử nhân, Tú tài, hoặc đội ơn ban cấp phẩm hàm, hoặc làm Chánh tổng, Lý trưởng, thì lệ khao vọng gồm 1 con lợn khoảng 6 đồng tiền bạc, các đồ lễ xôi, rượu, vàng mã cũng giống như trên. Trước hết đem đến lễ thần, sau đó kính mời đồng dân cùng uống rượu. Các khoản xong xuôi, đồng dân tôn bầu làm sắc mục. Nếu vị nào đã ở trong hội tư văn rồi thì được miễn, khao vọng thì cũng giống như tục lệ này của xã Đại Mỗ.
 
+ Đối với hôn lễ, Mục 8, quy định: Xã Đại Mỗ trong tổng Đại Mỗ, người nào có việc cưới gả, thì các đồ sính lễ và cỗ bàn ăn uống, thuỳ theo giàu nghèo mà no liệu, không có tục lệ cố định. Các xã Phú Thứ, Phú Đô, Ngọc Trục, Phùng Khoang, Vạn Phúc và Mộ Lao *(* Vạn Phúc và Mộ Lao xưa thuộc Từ Liêm, nay thuộc Hà Tây) cũng theo lệ này.
 
+ Đối với việc tang, Mục 9, quy định: Tang lễ trong Tổng, nếu người nào có việc hiếu hoặc hung tang, hoặc cát tang, thì mổ bò hoặc mổ lợn bầy 100 đĩa thịt, không kể đầy đặn hay mỡ nạc, 1 mâm xôi khoảng gạo 20 bát to nhỏ, 10 vò rượu, 100 miếng trầu. Mức vừa phải, lệ dùng 50 đĩa thịt lợn, 1 mâm xôi khoảng 10 bát gạo, 5 vò rượu, 100 miếng trầu. Mức thấp, lệ dùng 30 đĩa thịt, 1 mâm xôi khoảng chừng gạo 10 bát, 3 vò rượu, 100 miếng trầu. Trường hợp nào nghèo túng qua, chỉ cần sắm 100 miếng trầu, 1 quan 2 mạch tiền mà thôi. Cả bốn mức nêu trong lễ trên, tuỳ theo tấm lòng hậu mà đưa lại cho đồng giáp bao nhiêu cũng xin ưng thuận.
 
+ Đối với người già, Mục 10 quy định: Xã Đại Mỗ trong tổng, nếu có người nào đến 50 tuổi, hàng năm đến ngày mồng 1 tháng giêng sắm sửa 40 miếng trầu, 1 chai rượu, đem đến đình sở làm lễ yết thần, kính dân, rồi mới được dự vào hội lão.
 
Những lệ làng như khao vọng, cưới xin, ma chay đặc biệt là thời kỳ khi kinh tế, đời sống còn khó khăn, kể cả thời kỳ hiện đại ngày nay, thì cũng là những hủ tục trói buộc người dân vào sự nghèo nàn, hay xa hoa. Thêm vào nữa, từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân, kẻ giàu có, quyền thế được tự do chiếm đoạt, phát canh thu tô. Con cái người dân không có trường lớp để học hành. Từ khi chúng thành lập Hội đồng tộc biểu thì sự dạn nứt mất đoàn kết giữa họ này với họ kia, mâu thuẫn người cùng làng trở nên căng thẳng. Chính từ đó, những vấn đề về chính trị xã hội trong bối cảnh như vậy, (đã làm cho) người dân sinh sống trên mảnh đất văn vật nổi tiếng vẫn chưa thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu.
 
Năm 1921, theo ý đồ của người Pháp, Tổng Đốc - Hoàng Trong Phu phát động cuộc cải cải cách hương chính, mà một trong những nội dung của nó là đưa ra bản “Hương ước cải lương”. Theo đó, Hương ước mỗi làng bao gồm hai phần: Chính trị và Tục lệ riêng. Với loại Hương ước này, người Pháp khôn khéo đưa luật pháp của chính phủ bảo hộ vào lệ làng, hay “lệ làng hóa phép nước”. Hầu hết các bản Hương ước còn thấy ngày nay đều là Hương ước cải lương. Tuy vậy, ở phần tục lệ riêng vẫn giữ lại phần lớn những điều khoản của Hương ước cũ. Nội dung chính của Hương ước là đưa ra một hệ thống những điều khoản nhằm bảo đảm duy trì thuần phong mỹ tục của làng, trong đó đáng chú ý là các điều khoản về bảo vệ tài sản công cộng (đình, chùa, đường xá, cầu, cống), bảo vệ an ninh làng xóm (quy định các mức phạt đối với các tội danh ăn trộm, đánh nhau, cờ bạc, hủ hóa, v.v), về các sự kiện trọng đại của đời người (quan, hôn, tang, tế), về việc tổ chức thờ cúng thành hoàng làng cùng các sinh hoạt tôn giáo (lịch thờ cúng, các hình thức và trình tự tế lễ, đồ tiến cúng, chia biếu lễ vật, v.v), về khuyến học (Lập phe tư văn, cấp ruộng học điền, cấp tiền cho học trò nghèo, v.v), v.v. Tuy nhiên, hương ước cũng có mặt hạn chế của nó, thể hiện trong những khoản nói về tư tưởng cục bộ, địa phương, bè phái, tư tưởng ngôi thứ, về hủ tục trong ma chay, cưới xin, khao vọng, nhất là về lối sống theo lệ làng, ít quen với pháp luật, thậm chí trái với pháp luật. Đây là điều cần lưu ý trong việc tái lập lại hương ước (hay quy ước, quy chế) để có được “Hương ước văn hóa “ngày nay.
 
Về tổ chức bộ máy hành chính địa phương thời phong kiến, đứng đầu mỗi xã (hay làng) là một xã trưởng, một xã xứ (xã phó) và một xã giám (phụ trách tuần phiên). Chưa biết từ lúc nào cho đến trước Pháp thuộc, bộ máy hành chính trên được thay bằng một lý trưởng, một phó lý, một trưởng bạ (theo dõi việc đinh, điền), một hộ lại (sinh, tử, giá thú) và một trương tuần (cai quản đám tuần phiên). Nhóm người này, gọi chung là Hội đồng hương lý. Nhiệm vụ của Hội đồng hương lý là thực hiện các chủ trương của Nhà nước (đốc thu thuế, làm nghĩa vụ đi lính, v.v. Bên cạnh đó, Hội đồng hương lý còn có trách nhiệm thực hiện các quyết định của Hội đồng kỳ mục. Các quyết định của Hội đồng kỳ mục chủ yếu dựa vào lệ làng, hương ước của làng. Đứng đầu Hội đồng kỳ mục là một tiên chỉ, dưới tiên chỉ là thứ chỉ và một nhóm người là hưu quan, những người có chức sắc, văn bằng nhà nước, và cả những người đã kinh qua bộ máy hương lý. Tiên chỉ là người đứng đầu làng, được chủ trì các cuộc họp của Hội đồng kỳ mục để bàn bạc và quyết định những việc lớn của làng rồi giao cho hương lý thi hành.
 
Năm 1921, thực dân Pháp tiến hành cuộc cải lương hương chính ở Bắc Kỳ mà trọng tâm là thay thế Hội đồng kỳ mục bằng Hội đồng tộc biểu. Với cuộc cải lương hương chính, người Pháp đã can thiệp sâu vào đời sống làng xã, hạn chế tính tự trị của bộ máy Kỳ mục cũ. Đặc trưng của Hội đồng tộc biểu so với Hội đồng Kỳ mục là các thành viên được chọn từ đại diện các họ trong làng. Hội đồng tộc biểu có trách nhiệm lập sổ thu chi, bổ sưu thuế, quản lý các công trình công cộng, điều hành các công việc trong làng theo lệ làng và hương ước, dưới sự giám sát của Hội đồng hương lý (Thông qua bầu bán, người ta cử ra Ban hương hội bao gồm 4 người: một chánh hội, một phó hội, một thủ quỹ và một thư ký). Với sự phân quyền mới này, vai trò của bộ máy nhà nước ở các làng được mặc nhiên nâng lên, vai trò của các vị kỳ mục bị phủ nhận, vai trò của dòng họ được chú ý. Tất cả đều nhằm phụ vụ nhu cầu cai trị sâu hơn và trực tiếp hơn của người Pháp vào nông thôn trong xã. Cũng từ cuộc cải lương hương chính, truyền thống trọng tước (tôn trọng những người có văn bằng, chức sắc) đã bị sứt mẻ và hạn chế, không còn là tiêu chí để chọn người vào các tổ chức đảm trách việc điều hành cuộc sống tự trị của làng xã.
 
Tồn tại vừa như một đơn vị xã hội, vừa như một đơn vị hành chính dưới làng là các giáp. Đến trước cách mạng tháng Tám, mỗi làng ở Đại Mỗ có từ 2 giáp trở lên *(* Khởi thủy, giáp là tổ chức xã hội bao gồm những người đàn ông từ 18 tuổi trở lên. Giáp không nhất thiết phải trùng với họ, mặc dù trong nhiều trường hợp, giáp với họ trùng nhau. Đa số các giáp có thành viên từ hai, ba họ khác nhau. Giáp cũng không phải là đơn vị cư trú, mặc dù đôi khi ngẫu nhiên một giáp nằm gọn trong một xóm). Lúc đầu, giáp được lập ra do nhu cầu bảo vệ làng xóm và tiến hành xây dựng các công trình công cộng. Cùng với quá trình phát triển của nhà nước, giáp cũng dần bị lợi dụng để phục vụ việc thu thuế, bắt phu, bắt lính, thực hiện các chủ trương do trên đưa xuống. Chính vì vậy, trước năm 1945, giáp đã đương nhiên trở thành thành như một đơn vị xã hội - hành chính dưới làng *(* Con trai mới đẻ đã phải biện một cơi trầu, chai rượu đem ra đình để trình với hàng giáp là sau này nó sẽ thuộc về giáp nào. Chỉ đến khi đủ 18 tuổi, anh ta mới chính thức trở thành thành thành viên của giáp, được hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ của giáp. Về quyền lợi, thành viên của giáp được coi như thành viên của làng, được phân phối công điền, được tham gia hội hè, đình đám, được tương trợ trong các dịp ma chay, cưới xin. Về nghĩa vụ, thành viên của giáp phải cùng tham gia lo các việc hội hè, tế lễ của làng khi đến lượt, phải bảo đảm an ninh xóm làng và thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước như đi lính, đi phu, nộp sưu, nộp thuế). Đứng đầu mỗi giáp là bốn ông Trùm Giáp, tuổi cao (thường từ 56 đến 59), do một ông đứng đầu gọi là Trưởng Giáp, hay Trưởng Linh (do chữ lệch mà ra). Trưởng Giáp có nhiệm vụ đốc thúc các thành viên trong giáp thực hiện các nghĩa vụ với làng. Khi đến tuổi 60, người đàn ông trong giáp được lên lão *(* Việc lên lão, lên cụ thượng hay cụ Thượng nhất đều phải qua lễ khao giáp, nếu không, suốt đời vẫn chỉ là lão ngang, v.v) “Xuất lão vô sự”, họ được miễn trừ các nghĩa vụ, được hưởng mọi quyền lợi với giáp, với làng, được ngồi chiếu trên trong các cuộc khao vọng. Tùy từng làng, khi lên tuổi 70 hay 80, họ được lên cụ Thượng, được ngồi chỗ chiếu nhất của hàng giáp hay của làng. Người cao nhất trong các cụ thượng được gọi là cụ Thượng nhất. Nếu như ở tổ chức Hội đồng kỳ mục cũ, trọng tước được coi là tiêu chí hàng đầu để tuyển chọn, thì ở tổ chức hàng giáp, trọng xỉ (trọng người cao tuổi) lại được coi là tiêu chí hàng đầu để phân cao thấp. Đó là nét đặc trưng của cơ cấu tổ chức làng xã đồng bằng Bắc Bộ nói chung, và Đại Mỗ nói riêng trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám.
 
Ngoài Hội đồng hương lý, Hội đồng kỳ mục, Hội đồng tộc biểu, làm nên cơ cấu tổ chức xã hội trong làng xã Đại Mỗ trước kia, còn các hội đoàn khác: hội Đồng niên, hội đồng môn, các phường mang tinh chất nghề nghiệp như: phường phường Dệt (ở làng Đại Mỗ), phường làm hàng xáo (ở Giao Quang), phường Đan (ở Ngọc Trục), v.v.
 
V. TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CHỐNG NGOẠI XÂM, CHỐNG CƯỜNG QUYỀN:
 
Từ thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc, rồi Bắc Thuộc đến thời kỳ cận đại, dân tộc ta đã liên tục phải đương đầu với các cuộc xâm lăng của kẻ thù phương Bắc. Sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, đất nước đắm chìm dưới gót ngoại xâm nhà Hán, sau đó là hơn hai trăm năm chống quân Ngô cũng bị dìm trong biển máu. 300 năm nữa trôi qua, giặc nhà Lương sang xâm lược. Năm 542, Lý Bí khởi nghĩa đánh đuổi quân Lương, dựng nước Vạn Xuân. Nhà Lương cho quân sang phục thù. Lý Bí giao binh quyền cho Triệu Quang Phục (năm 548). Năm Đinh Sửu (557), thôn Đại Mỗ được chọn làm trung tâm của Ô Diên, nơi ngự quản của Lý Phật Tử *(* xem: “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, NXB VHTT năm 1999, trang 63). Cho đến năm 1010, khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Từ đó, Đại Mỗ là vùng phụ cận của Kinh đô.
 
Mỗi cuộc xâm lăng, kẻ thù đều gập sự chống trả quyết liệt của dân tộc ta. Rất tiếc, vì hạn chế do chưa có văn tự, thiếu tài liệu thư tịch ghi lại cụ thể và đầy đủ quá trình chống xâm lược của người dân Đại Mỗ ở các thời kỳ này. Dù sử sách không ghi rõ hay không ghi hết, nhưng ở vị trí bao quanh sông nước, trung tâm Ô Diên, kề cận Kinh thành, và trong những hoàn cảnh lịch sử lâm nguy như vậy, chắc chắn sẽ phải có sự tham gia của người dân Đại Mỗ đứng lên theo các tướng lĩnh đánh đuổi ngoại bang xâm lược.
 
Căn cứ vào việc thờ các dũng tướng Đào Trực, Ả Lã Nàng Đê làm Thành hoàng ở các làng Đại Mỗ; hàng năm đến ngày mồng 6 tháng giêng, dân làng thắp hương tưởng nhớ và truyền thuyết, thần phả, thần tích *(* Để phần nào thấy được truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của người dân Đại Mỗ nói riêng và các vùng nói chung, ta tìm hiểu và dựa vào truyền thuyết, thần phả, thần tích không phải là lịch sử. Nhưng truyền thuyết, thần phả, thần tíctrong sẽ cho ta bóng dáng của lịch sử đã được huyền thoại hóa. Tách bỏ cái vỏ huyền thoại đó, sẽ có được cái cốt lõi phản ánh lịch sử). Tất cả, đều cho ta thấy ở Đại Mỗ đã có truyền thống đấu tranh chống quân xâm lược.
 
Làm lên truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, ngoài đông đảo quần chúng nhân dân, Đại Mỗ có những damh nhân góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Vào thời Tương Dực Đức, khi vua khởi nghĩa, năm 1514, ông Nguyễn Vũ ở Đại Mỗ đã đi đầu hưởng ứng, làm quan đến Binh bộ tả thị lang. Đến 3 ông cháu họ Nguyễn Quý, con rể của cụ Nguyễn Quý Kính, v.v đều là những nhà nho yêu nước, đóng vai trò quan trọng trong việc trị nước, yên dân, đời đời khen ngợi là những bậc tiết nghĩa.
 
Sau khi thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược nước ta, rồi đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất (năm 1873), tiếp đó đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai (năm 1883). Nhân dân vùng Mỗ, các vùng chung quanh đứng lên theo phái chủ chiến và nghĩa quân Bắc Hà do Hoàng Kế Viên, Tôn Thất Thuyết chỉ huy lập phòng tuyến sông Nhuệ, tham gia các đoàn nghĩa sĩ đánh địch. Ở trong làng, nhân dân bố trí chỗ ở, cung cấp l­ương thực, thực phẩm cho nghĩa quân. Nhiều dấu ấn lịch sử ghi lại ở “Sau Nhuệ Giang, các làng, các xóm đều được biến thành căn cứ chiến đấu. Sông Nhuệ không sâu, không rộng, nhưng cũng là phòng tuyến thiên nhiên sau lưng Hà Nội, bảo vệ con đường lên Sơn Tây” *(* xem “Chống xâm lăng - Bắc kỳ kháng Pháp” của Trần Văn Giàu, sách “LSCM xã Phú Diễn” xuất bản năm 1999 trang 43, đã dẫn).
 
Khi triều đình Huế ký Hiệp ước Patonôt (ngày 6/6/1884) đầu hàng đế quốc Pháp, công nhận sự đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Từ đó, Đại Mỗ nói riêng cũng nằm trong quy chế” xứ bảo hộ” của Pháp. Nhân dân Bắc Hà sôi sục đứng dậy chống đế quốc Pháp xâm lược. Lúc này, ở một số người Đại Mỗ theo Quân Gầy (người Tây Mỗ) đứng lên chống lại sự áp bức.
 
15 năm sau đó, dưới sự lãnh đạo của nhà sư­ V­ương Quốc Chính, tổ chức nghĩa đảng được thành lập (còn gọi là hội “Th­ượng Trí “), tập hợp lực lư­ợng chuẩn bị khởi nghĩa đánh Pháp. Hoạt động của nghĩa đảng dựa vào nhà chùa, lấy những ngày lễ phật để tập binh, bàn việc khởi nghĩa chống Pháp. Chắc chắn rằng, ở Đại Mỗ sẽ có không ít người tham gia *(* “… ở Hà Đông, Sơn Tây rất nhiều xã đã rào làng chống địch, buộc Pháp phải đem quân thêm từ Lạng Sơn về giải tán ngay số dân đi làm đường ở Cầu Đơ, …..” - Xem Lịch sử cận đại Việt Nam - tập II - NXB giáo dục Hà Nội - năm 1961).
 
Sang đầu thế kỷ XX, khi nhà yêu nước L­ương Văn Can khởi sướng phong trào Đông kinh Nghĩa thục, một số sĩ phu ở Hà Nội đi tuyên truyền vận động; phong trào nan tới Đại Mỗ. Cũng trong thời gian này, những cuộc lưu diễn thuyết giảng, tuyên truyền cho các học viên của lớp và nhân dân các khu vực trong vùng của nhà nho yêu nư­ớc Phan Chu Trinh đã ảnh hưởng lớn đến phong trào. Sách báo có nội yêu nước được chuyển về làng tuyên truyền, nhiều người tham gia lớp Đông Kinh Nghĩa Thục. Nội dung chư­ơng trình của các lớp học gồm các bài về văn, sử, địa, khoa học th­ường thức, được giảng bằng chữ Hán và chữ quốc ngữ. Ngoài các buổi học theo chương trình quy định, lớp học còn tổ chức các buổi bình đọc văn, thơ mang nội dung tuyên truyền tư tưởng, đề cao tinh thần đoàn kết, yêu nư­ớc, bài trừ hủ tục, thực hiện nếp sống mới, động viên phát triển kinh tế, phê phán quan lại xấu xa, chống lối học vụ thi cử, khuyến khích học chữ quốc ngữ, v.v. Thấy Đông Kinh Nghĩa Thục không chỉ có đơn thuần dạy học, mà đã trở thành một phong trào yêu nư­ớc chống Pháp,  “đã trở thành một lò phiến loạn ở Bắc kỳ”. Năm 1908, thực dân Pháp ra lệnh giải tán các lớp học và thẳng tay đàn áp, lùng bắt những ng­ười tham gia tổ chức lớp học.
 
Năm 1915, người Pháp thực hiện chính sách sản xuất kinh doanh rượu, nhưng chúng không cho dân nấu rượu truyền thống; chúng cho quân đi lùng sục, thu bắt rượu nấu, hành hung rất tàn bạo. Không chịu nổi cảnh áp bức, ở Giao Quang các bà Đai Ba, Nguyễn Thị Thục đã dùng liềm đuổi đánh những Tây đoan đến làng bắt rượu.
 
Để đánh lạc hướng nhân dân, thực dân Pháp lấy tỉnh Hà Đông thí điểm “cải lương hương chính”, làm cho nhiều người lầm tưởng có người Pháp bảo hộ việc  “khai hóa “cho dân ta. Năm 1923, Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu về Đại Mỗ xây nhà ấu trĩ viện, mở trường học hàng tổng. Trường học đặt ở đình Đại Mỗ, có ba lớp sơ học thay cho các trường dạy chữ Hán của các cụ đồ nho ở các xóm. Nhưng, cũng từ khi có trường học, thanh thiếu niên học sinh ở Đại Mỗ được đọc các sách báo yêu nước như: Việt Nam vong quốc sử, Lưu cầm huyết lệ thư, Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu, báo Việt Nam hồn của nhóm Nguyễn Thế Truyền, v.v.
 
Năm 1925, ở Hà Nội nổ ra phong trào đấu tranh đòi Pháp trả tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu; năm sau (1926) lại nổ ra phong trào truy điệu cụ Phan Chu Trinh; một số nhà nho yêu nước ở Đại Mỗ tham gia làm câu đối viếng. Sau đó, trong các phong trào văn hóa tiến bộ, truyền bá tư tưởng dân tộc, dân chủ mà nòng cốt là các tờ báo xuất bản công khai như: Hữu Thanh, Tiếng Dân, Đông Pháo thời báo đều được các nhà nho và thanh niên Đại Mỗ truyền tay nhau đọc. Nhóm các nhà nho yêu nước như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng lập Giác quần thư xã ở Hà Nội, xuất bản các báo phẩm văn thơ của Phan Bội Châu để ngầm tuyên truyền tư tưởng yêu nước. Ông Ngô Đức Kế về Đại Mỗ hướng dẫn các nhà nho yêu nước tổ chức hoạt động, cổ vũ phong trào của nhân dân, nhất là thanh niên. Ông Nguyễn Bỉnh Thức (tức Đỗ Thức) mở chi nhánh Giác Quần Thư ở phố chợ Đại Mỗ để phát hành sách yêu nước. Thanh niên các làng Mỗ, La Cả, Vạn Phúc còn tổ chức tuyên truyền đọc các sách báo yêu nước của Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn, v.v chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam. Các nhà nho yêu nước ở Đại Mỗ còn tổ chức các nhóm đọc sách báo do anh Năm Kha ở Tây Mỗ cung cấp, tham gia lập hiệu thuốc nam lấy kinh phí hoạt động, tổ chức các hội hiếu, hội hỷ giúp đỡ lẫn nhau khi có việc tang, việc cưới theo đời sống mới, bài trừ hủ tục *(* Cổng nhà ông Đỗ Thức có ba chữ  “Giao Hữu Công”- ý nói chỉ giao thiệp với những người có công đức).
 
Tất cả đều tỏ rõ khí phách yêu nước của nhân dân xã Đại Mỗ. Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh chống thực dân, áp bức ở thôn xóm đều diễn ra mang tính tự phát. Nguyên nhân chính là thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn. Chỉ từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, phong trào đấu tranh của nhân dân Đại Mỗ bước sang một giai đoạn mới: đi theo Đảng, cùng với nhân dân cả nước đứng lên thực hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương.
***
 
CHƯƠNG I
ĐẠI MỖ TRONG THỜI KỲ VẬN ĐỘNG CÁCH MẠNG,
TIẾN LÊN KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN
(1930 - 1945)
 
I. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẢNG VỚI PHONG TRÀO CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG (1930-1939).
 
Vào những năm 20 của thế kỷ XX nghề dệt phát triển mạnh ở một vùng rộng phía bắc tỉnh Hà Đông, bao gồm từ La Cả, La Khê, Vạn Phúc, Tây Mỗ, Đại Mỗ, Canh, Bưởi, Cầu Giấy v.v… là trung tâm tiêu thụ sản phẩm và cung cấp nguyên vật liệu từ Hà Nội chuyển về chợ (thị xã) Hà Đông tạo thành giao lưu giữa các làng cùng làm nghề dệt về kỹ thuật và lao động, hai xã Đại Mỗ và Tây Mỗ có mối quan hệ gần gũi thân thiết. Đồng thời sự liên lạc giữa vùng dệt Hoài Đức với các phố phường trung tâm tiêu thụ sản phẩm đi các xứ trong nước và ngoài nước, do đó mọi sự biến động ở Hà Nội đều có tác động ngay đến vùng dệt ở Hoài Đức.
 
Từ khi có trường học “công” *(* do Tổng đốc Hoàng Trọng Phu về Đại Mỗ xây nhà Ấu trĩ viên và mở trường học hàng tổng), các thiếu niên học sinh ở Đại Mỗ được tiếp cận các sách báo yêu nước, truyền tay nhau đọc *(* như Việt Nam vong quốc sử, Lưu cầu huyết lệ thư, Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu, bắc Việt Nam của nhóm Nguyễn Thế Truyền , v.v). Nhằm truyền bá sâu rộng phong trào yêu nước, bên cạnh trường công, anh Nguyễn Hữu Phú còn mở trường tư ở Tây Mỗ thu hút cả học sinh Đại Mỗ sang học. Trong lớp thày giáo Phú vốn có lòng yêu nước nên thường đưa sách “Nam quốc dân tu tri”, “Nữ quốc dân tu tri” của Phan Bội Châu và báo Tiếng Dân cho học sinh đọc để giáo dục tinh thần yêu nước cho các em. Hàng năm đến ngày giỗ tổ Hùng Vương, trường lại tổ chức nói chuyện về vua Hùng để giáo dục tinh thần yêu nước cho học sinh. Nhóm thanh niên Đại Mỗ như Phan Huy Lâm (tức Thăng), Lê Văn Chỉnh v.v… lập một tổ thơ, anh em thường truyền cho nhau đọc sách báo yêu nước, có lần được đọc thư của nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng gửi cụ Phan Bội Châu.
 
Năm 1930, khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng nổ ra, thực dân Pháp bắt giam nhà nho Nguyễn Hữu Hươu, Nguyễn Bỉnh Thức về phủ Hoài Đức thẩm vấn, thấy không có quan hệ với cuộc khởi nghĩa nên các ông được trả lại tự do. Trong nhà tù ở phủ, các ông chánh Hươu, Đỗ Thức đã tiếp xúc với người cùng bị giam là đồng chí Bùi Doãn Chân, quê ở Vân Canh, làm việc ở Hà Nội đã được giác ngộ cách mạng kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương nên sau khi được ra tù, anh Chân thường hay đến nhà các ông Đỗ Thức, Chánh Hươu tuyên truyền cách mạng. Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái, thực dân Pháp ra sức khủng bố những người yêu nước, anh em vẫn duy trì tổ thơ để trao đổi với nhau.
 
Ngày 3/2/1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Đầu năm 1931, cờ đỏ búa liềm xuất hiện trên cây gạo làng Phú Thứ làm cho nhân dân hết sức sửng sốt, khiến thanh niên các làng vùng Mỗ vui mừng vì đó là cờ cách mạng. Bọn mật thám tức tối bổ về làng dò la. Chúng thấy anh Bùi Doãn Chân cựu chính trị phạm thường từ Vân Canh hoặc Hà Nội đến nhà anh Phú, ông chánh Hươu ở Tây Mỗ, ông Đỗ Thức ở Đại Mỗ. Lúc này có cuộc tranh luận giữa ông Đỗ Thức và anh Phú về cách mạng quốc gia và quốc tế *(* Sau này mọi người được biết anh Phú đã được giác ngộ chủ nghĩa cộng sản còn ông Đỗ Thức vẫn muốn duy trì quan điểm các cụ đồ nho làm cách mạng quốc gia). Cuộc tranh luận đó không qua được sự rình mò của bọn mật thám, bất ngờ chúng khám xét nhà anh Nguyễn Hữu Phú nhưng không tìm được tài liệu gì có chứng cớ bắt anh.
 
Từ năm 1933 đến năm 1935, một số thanh niên quê ở Hoài Đức hoạt động tại Hà Nội bị địch bắt trong cao trào cách mạng (1930-1931) nay được trả tự do tiếp tục hoạt động, tuyên truyền gây ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản * (* Như các đồng chí Lê Hoàng, Nguyễn Dĩ, Nguyễn Quốc Ứng, Bùi Sinh Chấn). Những cuộc trao đổi thảo luận về con đường cứu nước giữa những chiến sĩ cộng sản ở tù ra với những thanh niên yêu nước trước đây chưa tin theo chủ nghĩa cộng sản diễn ra ở một số nơi, nhất là vùng La-Mỗ, nhưng với tinh thần mới là khẳng định con đường cứu nước theo chủ nghĩa cộng sản là con đường chân chính. Sự chuyển biến tư tưởng của số thanh niên cốt cán các vùng La-Mỗ có ý nghĩa và tác động sâu sắc đến tình hình phong trào cách mạng ở vùng này.
 
Bằng những bài thơ ca, quần chúng cách mạng vùng La đã đả kích sâu sắc chế độ thống trị thối nát của đế quốc và bọn hào lý địa phương. Trong đám tang ông Cả Lộc ở La Cả được tổ chức theo kiểu mới, bỏ xôi thịt theo lệ làng, bỏ cả khăn xô áo trắng, vận động hàng trăm thanh niên hai tổng La và Mỗ đến đeo băng đen đi đưa đám. Sau đó đến đám tang mẹ chị Thiên ở Yên Lộ cũng được tổ chức như vậy đã gây tiếng vang về sự đổi mới.
 
Thông qua hội hiếu mà cán bộ của Đảng tập hợp được quần chúng cả một vùng La-Mỗ-Vạn, thanh niên có điều kiện đi lại hội họp với nhau, chuẩn bị cho các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi hàng ngày.
 
Cuối năm 1935 anh Dương Nhật Đại có liên hệ với đồng chí Trần Đình Long, cán bộ của Đảng cộng sản Đông Dương hoạt động công khai ở toà báo Le Travail (Lao động) trong nội thành Hà Nội. Từ đó nhóm thanh niên vùng La-Mỗ được gặp các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt v.v… ở toà báo và đồng chí Nguyễn Văn Cừ thường qua lại hướng dẫn cho anh em cách tổ chức hoạt động đấu tranh công khai và bán công khai đòi dân sinh, dân chủ.
 
Hoảng sợ trước phong trào cách mạng ngày càng lên cao, chính phủ Pháp đã cử Gô-đa phái viên sang Đông Dương điều tra về tình hình thuộc địa. Ông ta sẽ đến Vạn Phúc, một làng mà bọn thống trị ở Đông Dương khoe là “làng kiểu mẫu” của tỉnh Hà Đông.
 
Được sự hướng dẫn của cán bộ Đảng, một Ban lãnh đạo đấu tranh được thành lập có Dương Nhật Đại (La Cả), Nguyễn Quý Bình (Đại Mỗ), Bùi Xuân Lãng (Vân Canh) và Nguyễn Hữu Hươu (Tây Mỗ). Ban lãnh đạo đã phân công nhau đến các làng vùng La, Mỗ, Vạn, Canh lấy chữ ký vào bản kiến nghị chung và vận động từng người viết kiến nghị đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống, lập thêm trường học, nhà hộ sinh, bệnh viện v.v…
 
Sáng 6/2/1937, Ban lãnh đạo đấu tranh huy động quần chúng ở các làng vùng La-Mỗ-Vạn-Canh đến Vạn Phúc để đón Gô-đa, khoảng 10 giờ sáng, Tổng đốc Hà Đông là Hoàng Trọng Phu tổ chức đón Gô-đa về làng Vạn Phúc, đoàn biểu tỉnh ở vùng La-Mỗ-Canh tiến lên đưa hàng trăm bản dân nguyện có nhiều chữ ký của nhân dân. Gô-đa đón nhận và hứa sẽ đề nghị lên Chính phủ Pháp giải quyết. Sau đó Gô-đa lại gặp đoàn biểu tình của nhân dân Vạn Phúc khiến Hoàng Trọng Phu lúng túng bất ngờ.
 
Đây là cuộc đấu tranh công khai lớn đầu tiên, tuy chưa rõ kết quả nhưng gây không khí phấn khởi trong nhân dân địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập hợp quần chúng tiếp tục đấu tranh đòi dân sinh dân chủ.
 
Sau cuộc đấu tranh này, các đồng chí Nguyễn Văn Cừ *(* Đồng chí Nguyễn Văn Cừ lúc đó là Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ), Hoàng Quốc Việt đã trự tiếp về Hoài Đức hướng dẫn thành lập các tổ chức quần chúng của Đảng hoạt động công khai, bán công khai và bí mật.
 
Từ đó ở đại Mỗ ngoài hội hiếu còn có các hội đá bóng, hội đọc sách công khai. Sau đó lập hội Ái hữu thợ dệt của hai xã Tây Mỗ - Đại Mỗ cử ông Đào Xuân Nhu làm hội trưởng. Trụ sở công khai đặt tại nhà ông Tụ (Đại Mỗ), sau đó kết hợp với vùng Bưởi lập hội Ái hữu thợ dệt tỉnh Hà Đông do nhà văn Tô Hoài làm Tổng thư ký. Hội Ái hữu thợ dệt được phép của nhà cầm quyền hoạt động công khai nhằm mục đích vận động anh em tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, bênh vực những người lao động đi làm thuê cho các nhà tư sản và tiểu chủ.
 
Về sản xuất nông nghiệp, vụ chiêm năm 1937 mất mùa khiến đời sống nhân dân gặp khó khăn mà bọn thống trị vẫn bắt đóng sưu (thuế thân) rất nặng không phân biệt giàu nghèo, mỗi trai đinh từ 18 tuổi trở lên mỗi năm nộp 2 đồng rưỡi, về làng cường hào thu thêm để lấy tiền chi tiêu nên mỗi suất đóng 3 đồng (bằng 150 kg gạo). Nhiều người nghèo không có tiền nộp sưu bị lý trưởng thu cả đồ thờ, có người bị bắt trói ở đình rồi phải bỏ làng trốn đi nơi khác sinh sống.
 
Cán bộ lãnh đạo trong vùng bàn tổ chức cuộc đấu tranh đòi miễn thuế nhưng sau được đồng chí Hoàng Quốc Việt hướng dẫn nên nêu khẩu hiệu thực tế hơn chỉ đòi “giảm sưu, hoãn thuế”. Ban lãnh đạo cuộc đấu tranh cho cả vùng La-Mỗ-Vạn-Canh được thành lập gồm có các anh Dương Nhật (La Cả), Nguyễn Quý Bình (Đại Mỗ), Bùi Xuân Lãng (Vân Canh), Nguyễn Hữu Hiệt (Tây Mỗ). Theo kế hoạch của Ban lãnh đạo, sáng 14/5/1937, nhân phiên chợ tơ Hà Đông, các làng huy động nhân dân giả đi chợ rồi tập trung ở Toà đại sứ của Pháp ở thị xã Hà Đông tới hơn 300 người biểu tình đòi gặp Công sứ để xin “giảm sưu, hoãn thuế”. Bọn thống trị người Pháp đón cửa không tiếp nổi, gọi điện sang dinh Tổng đốc Hà Đông cử Lê Văn Định sang tiếp, hắn nói mọi người trở về và hứa đúng 2 giờ chiều Tổng đốc Hoàng Trọng Phu sẽ về đình Đại Mỗ để giải quyết. Đoàn biểu tình được lệnh giải tán rồi toả ra các làng vận động nhiều nhân dân tham dự.
 
Buổi chiều hàng nghìn người từ các ngả đường ùn ùn kéo đến sân đình Đại Mỗ. Riêng xã Đại Mỗ nhân dân các làng Ngọc Trục, An Thái, Giao Quang tới vài trăm người. Đúng giờ, Hoàng Trọng Phu đến, hắn vừa bước xuống xe đã nghe thấy tiếng hô vang khẩu hiệu “yêu cần giảm sưu”, “yêu cần giảm thuế”.
 
Lúc đầu Hoàng Trọng Phu cho lính hỏi thẻ bắt mọi người đứng riêng từng làng để chúng kiểm soát nhưng không ai chịu đưa thẻ cứ đứng lẫn lộn chúng phải chịu. Hoàng Trọng Phu vừa bước lên thềm đình đã bị một số đại biểu của đoàn biểu tình đứng ngay hàng đầu chất vấn và nêu yêu sách. Hoàng Trọng Phu liền khất rồi tìm cách rút lui.
 
Mấy hôm sau địch cho lính về truy bắt những người dự mít tinh, chất vấn Hoàng Trọng Phu vì chúng cho rằng đó là cán bộ lãnh đạo đoàn biểu tình rồi đưa về thị xã Hà Đông giam giữ xét hỏi. Vì không đủ chứng cớ buộc tội nên chúng phải trả lại tự do cho anh em *(* ở Ngọc Trục các ông Nguyễn Công Đường, Nguyễn Văn Giàn, Nguyễn Đắc Tháp bị địch bắt xuống dinh tổng đốc).
 
Cuộc đấu tranh chống thuế ở đình Đại Mỗ mở đầu cho phong trào đấu tranh chống thuế của nhân dân tỉnh Hà Đông và các tỉnh lân cận. Cuối cùng bọn thống trị Pháp phải sửa lại chế độ sưu chia làm hai loại: ai có tài sản thì nộp 2 đồng rưỡi, vô sản thì chỉ phải nộp 1 đồng.
 
Sau cuộc chống thuế ở Đại Mỗ đã hình thành tổ chức thanh niên Dân chủ có 20 đoàn viên do anh Nguyễn Trọng Điển phụ trách, nòng cốt của phong trào cách mạng ở địa phương. Vào mùa thu năm 1937, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã về nhà anh Chỉnh ở Đại Mỗ để giảng giải cho anh em hiểu rõ về chủ nghĩa cộng sản và những chủ trương cách mạng của Đảng, có bốn người ở Đại Mỗ như các anh Phan Huy Lâm, Nguyễn Công Tài (tức Tư Vinh), Nguyễn Quý Bình và Lê Văn Chỉnh tham gia, anh Dương Nhật Đại (La Cả) cùng dự.
 
Sang năm 1938, phong trào cách mạng ở Tây Mỗ, Đại Mỗ đi vào chiều sâu. Nhân dịp kỷ niệm Quốc tế lao động 1/5/1938 nhân dân Đại Mỗ đã cùng với nhân dân Hà Nội tham gia cuộc biểu dương lực lượng tại nhà Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa hữu nghị) Hà Nội. Sau đó ngày 5/5/1938 có cuộc họp toàn quốc của Đoàn thanh niên Dân chủ, anh Nguyễn Hữu Phú đại diện cho thanh niên vùng Mỗ tham dự. Riêng vùng La-Mỗ-Vạn tổ chức mít tinh ban đêm để ủng hộ nhân dân Trung Quốc kháng Nhật.
 
Qua một thời gian lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi dân sinh dân chủ ở Hoài Đức, một số đoàn viên thanh niên Dân chủ ưu tú đã được Xứ uỷ Bắc kỳ lựa chọn kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Lễ kết nạp Đảng được tổ chức ở La Cả. Ngày 15/5/1938, đồng chí Trần Quý Kiên tức Đinh Xuân Nhạ đại diện Xứ uỷ Bắc kỳ về La Cả họp tuyên bố kết nạp anh Dương Nhật Đại (La Cả), Nguyễn Quý Bình (Đại Mỗ), Ngô Văn Phát (Thượng Cát) và thành lập chi bộ ghép đầu tiên ở phủ Hoài Đức. Các đồng chí đảng viên không phải qua thời gian dự bị và chỉ định đồng chí Dương Nhật Đại làm bí thư chi bộ. Theo sự phân công của chi bộ, đồng chí Bình phụ trách phong trào cách mạng ở vùng Mỗ-Canh.
 
Tháng 9/1938, chi bộ ghép kết nạp thêm hai đảng viên là đồng chí Nguyễn Hữu Hiệt (Tây Mỗ) và đồng chí Nguyễn Công Tài (Đại Mỗ) nên được tách thành lập chi bộ Tây-Đại Mỗ có 3 đảng viên do đồng chí Nguyễn Quý Bình làm bí thư.
 
Cuối năm 1938, sau khi được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã về Đại Mỗ xây dựng cơ sở làm trạm liên lạc với Ban Thường vụ Trung ương Đảng lúc đó ở Nam bộ. Trạm liên lạc ở nhà anh Lê Văn Chỉnh chỉ có việc cần đánh điện vào Sài Gòn qua nhà chị Lê Thị Tiến tức Hai Kim (chị ruột anh Chỉnh) ở phố Aviateur la Routu sau đổi tên là phố Thủ Khoa Huân rồi chuyển cho cán bộ ta. Có lần đồng chí Nguyễn Văn Cừ giao cho anh Chỉnh trực tiếp mang thư cuộn nhỏ như điếu thuốc lá vào Sài Gòn chuyển trạm giao thông của Đảng.
 
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ nhờ đồng chí Chỉnh tìm cách chơi thân với lý trưởng Đại Mỗ lấy ba tấm thẻ thuế thân có đóng dấu khống chỉ giao cho đồng chí Nguyễn Văn Cừ để đồng chí cùng một số cán bộ của Đảng có giấy tờ hợp pháp vào Nam công tác.
 
Trước khi đồng chí Nguyễn Văn Cừ đi công tác đã giới thiệu đồng chí Hoàng Văn Thụ (lúc đó là Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ) đến nhà anh Chỉnh làm địa điểm liên lạc. Cuối năm 1939 khi đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng bị bắt ở miền Nam, Trung ương Đảng đã đánh điện ra thông qua nhà chị Hai Kim điện cho anh Chỉnh “Cháu Phùng bị ốm nặng” * (* Phùng là tên bí danh của đồng chí Nguyễn Văn Cừ). Nhận được điện, theo lời dặn của đồng chí Hoàng Văn Thụ, anh Chỉnh đã chuyển bức điện cho đồng chí Dương Nhật Đại, Bí thư tỉnh uỷ Hà Đông rồi đồng chí Đại chuyển đến đồng chí Trường Chinh.
 
Từ cuối năm 1938, đồng chí Hoàng Văn Thụ thường đi về Đại Mỗ để xây dựng thêm cơ sở cách mạng ở nhà anh Nguyễn Trọng Điển (tức Bảy Điển) xóm Ngang. Các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trần Đăng Ninh, Phan Trọng Tuệ nhiều lần qua lại ăn ở tại nhà anh Điển. Có lần đồng chí Hoàng Văn Thụ mượn áo sa tanh của anh Điển đóng giả vai thày giáo, bọn mật thám theo dõi đến khám nhà anh Điển, đồng chí Thụ phải trốn trong khám thờ.
 
Sau khi chi bộ Tây-Đại Mỗ kết nạp thêm 3 đảng viên mới * (* Đồng chí Nguyễn Trọng Điển (Đại Mỗ) và các đồng chí Nguyễn Hữu Phú, Bùi Xuân Tìu (Tây Mỗ)) đã tách ra làm hai chi bộ. Chi bộ Đại Mỗ có 3 đảng viên do đồng chí Nguyễn Quý Bình làm bí thư * (* Đầu năm 1939, đồng chí Nguyễn Quý Bình là Uỷ viên Ban tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Hà Đông). Về sau chi bộ Đại Mỗ kết nạp thêm các đồng chí Nguyễn Trọng Lạc, Nguyễn Duy Vàng.
 
Lúc này phong trào cách mạng ở cả vùng Tây Mỗ, Đại Mỗ, Vạn Phúc lên khá mạnh, nhân dịp các ngày kỷ niệm Quốc tế phụ nữ 8/3, kỷ niệm Quốc tế lao động 1/5/1939, ta huy động các đoàn thể quần chúng đông tới hàng trăm người họp mít tinh ở các cánh đồng Ngọc Trục, có đội bảo vệ của Đại Mỗ canh gác bảo đảm an toàn. Giữa năm 1939 thực dân Pháp âm mưu biến ruộng đất công của làng xã, vẫn chia cho trai đinh thành ruộng đất sở hữu của nhà nước gọi là chương trình “Quản thủ điền thổ”. Chúng bàn với Hoàng Trọng Phu lấy ba xã Ngọc Trục - Vạn Phúc - Yên Lộ để làm thử. Đầu tiên Hoàng Trọng Phu và tri phủ Hoài Đức Nguyễn Hữu Trí đưa tên Cút-xô phụ trách điền thổ phủ thống xứ Bắc kỳ về Ngọc Trục nói chuyện với nhân dân dụ dỗ khôn khéo, sau đó chúng về Vạn Phúc và Yên Lộ. Biết được âm mưu xảo quyệt của chúng, tỉnh uỷ Hà Đông chỉ đạo các chi bộ Đảng ở cơ sở vận động nông dân lôi kéo cả cường hào các làng chống lại. Kết quả thực dân Pháp phải bãi bỏ chính sách “Quản thủ điền thổ”.
 
Nhìn lại phong trào cách mạng ở xã Đại Mỗ từ năm 1936 mới có một số nhà nho và thanh niên có tinh thần yêu nước, khi được cán bộ Đảng giác ngộ cách mạng, hướng dẫn tổ chức từ các hội hiếu, đọc sách, đá bóng nhỏ bé sau xây dựng Hội Ái hữu thợ dệt liên minh cả một vùng nghề tổ chức các cuộc mít tinh, đấu tranh đòi “giảm sưu, hoãn thuế” có kết quả đem lại lợi ích cho người vô sản, qua đó để tập hợp quần chúng thành các tổ chức cách mạng đấu tranh đòi dân sinh dân chủ. Qua các cuộc đấu tranh xây dựng được lực lượng nòng cốt thành lập chi bộ Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương và xây dựng cơ sở cách mạng làm nơi đi lại ăn ở hội họp, trạm giao thông cho các đồng chí lãnh đạo của Xứ uỷ Bắc kỳ và đồng chí Tổng Bí thư của Đảng, đảm bảo được an toàn. Phong trào cách mạng ở Đại Mỗ có điều kiện tiếp tục bám rễ sâu rộng, phát triển ở giai đoạn tiếp theo.
 
II. GIỮ VỮNG CƠ SỞ CÁCH MẠNG, TIẾN LÊN KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1939-1945)
 
Tháng 9/1939 chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp ra sức đàn áp phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo, đồng thời ban bố lệnh tổng động viên bắt lính, cướp của để cung cấp cho chiến tranh đế quốc của chúng. Trong tình hình mới, khả năng đấu tranh hợp pháp để giành chính quyền dân chủ, dân sinh không còn nữa mà phải đặt nhiệm vụ đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai là mục tiêu trước mắt của cách mạng. Đảng đã kịp thời chỉ thị cho các cơ quan và cán bộ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp phải mau lẹ rút vào bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn để tiến hành công tác, phát triển mạnh mẽ lực lượng cách mạng ở cả nông thôn và thành thị *(* Trích Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (tóm tắt), Nhà xuất bản Sự thật-1985, trang 51.).
 
Ở Đại Mỗ, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ Hà Đông, các tổ chức hoạt động công khai như Hội Ái hữu thợ dệt, Hội đọc sách báo, đá bóng v.v… hoặc bán công khai như Đoàn thanh niên Dân chủ đều rút vào hoạt động bí mật. Lúc đó chiến tranh thế giới nổ ra, các mặt hàng dệ không mang đi bán ở Nam kỳ, Ai Lao, Cao Miên v.v… nên sản xuất sút kém, đời sống người thợ dệt khó khăn. Nhưng nhân dân Đại Mỗ tập trung vào sản xuất nông nghiệp, một số người vào Sài Gòn làm ăn, những người còn lại vẫn nhiệt tình tham gia cách mạng. Cuối tháng 9/1939, cơ sở in của Xứ uỷ Bắc kỳ do đồng chí Dương Minh, tỉnh uỷ viên Tỉnh uỷ Hà Đông phụ trách từ La Cả chuyển về nhà anh Chỉnh *(* Theo bản chứng nhận của đồng chí Dương Minh cho ông Chỉnh ngày 15/7/1985) viở đây kín đáo hơn. Đồng chí Trang là người chịu trách nhiệm in; các anh Nguyễn Quý Bình, Lê Văn Chỉnh chẳng những giúp đỡ việc mua giấy, mực in ở phố Hàng Bông mà còn trực tiếp tham gia viết chữ vào bải in bằng đá.
 
Cuối năm 1939, cơ sở in báo Giải phóng của Xứ uỷ Bắc kỳ do các đồng chí Nguyễn Văn Trân và Lê Viên phụ trách cũng từ Vạn Phúc chuyển về nhà chị Nguyễn Thị Tùng ở Ngọc Trục. Khoảng tháng 2/1940 do lý trưởng nghi ngờ nhà chị Tùng có người lạ đến in tiền giả nên báo quan trên về khám nhà ban đêm, chúng đã bắt các đồng chí Nguyễn Văn Trân, Lê Viên cùng các dụng cụ in báo và gọi mẹ con chị Tùng lên dinh Tổng đốc Hà Đông để tra hỏi. Cuối cùng chúng phải trả về địa phương. Tuy cơ sở in ở Ngọc Trục bị địch phá, các cán bộ phụ trách in báo của Đảng bị địch bắt nhưng các cơ sở cách mạng ở Đại Mỗ vẫn được duy trì. Đầu năm 1940, các đồng chí Hoàng Văn Thụ (Bí thư Xứ uỷ), Đào Duy Kỳ (Phó bí thư Xứ uỷ), Trần Đăng Ninh (Xứ uỷ viên), Phan Trọng Tuệ (Bí thư liên tỉnh A), Dương Nhật Đại (Bí thư tỉnh uỷ Hà Đông) chị Hoàng Ngân thường qua lại ăn ở tại cơ sở nhà anh Lê Văn Chỉnh, anh Nguyễn Trọng Điền và chị Ngô Thị Ninh (vợ anh Bình).
 
Cuối năm 1940, sau Hội nghị Trung ương lần thứ 7, ở nhà anh Chỉnh có cuộc họp Tỉnh uỷ Hà Đông, các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Đào Duy Kỳ về dự. Về phía Tỉnh uỷ Hà Đông có các đồng chí Dương Nhật Đại (Bí thư), Nguyễn Hữu Hưng (Phó bí thư), các đồng chí Dương Ninh, Hưởng (Tỉnh uỷ viên) và một số cán bộ trong đó có đồng chí Nguyễn Công Tài ở Đại Mỗ. Lúc này đồng chí Nguyễn Quý Bình, tỉnh uỷ viên sau khi bị địch bắt tra tấn đã mắc bệnh thần kinh tạm nghỉ công tác, chi bộ Đại Mỗ do đồng chí Bảy Điền làm bí thư. Đồng chí Trường Chinh, quyền Bí thư Trung ương Đảng có lần qua Đại Mỗ nhưng đồng chí không vào trong làng mà nghỉ qua đêm ở Cầu Ngói, sáng hôm sau ra đi.
 
Về phong trào quần chúng vẫn được giữ vững nhưng vì có cơ sở của Xứ uỷ và tỉnh uỷ nên tránh các hoạt động lộ liễu, nhân dịp kỷ niệm Quốc tế Lao động 1/5/1940 ta vẫn họp mít tinh quần chúng ở cánh đồng Ngọc Trục. Cuối năm 1940, sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, cán bộ ta đã vận động nhân dân ủng hộ tiền, quần áo gửi cho du kích Bắc Sơn.
 
Đầu năm 1941, Thanh niên phản đế ở Tây Mỗ, Đại Mỗ vẫn hoạt động mạnh, ban đêm cán bộ 2 xã họp ở cầu Triên để phổ biến kế hoạch vận động nhân dân ủng hộ du kích Bắc Sơn và Nam Kỳ. Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, Thanh niên phản đế 2 xã phân công nhau đi treo cờ ở Cầu Ngà, chùa Tổng để cổ vũ nhân dân hướng về sự lãnh đạo của Đảng.
 
Đầu tháng 5/1941, Hội nghị cán bộ do Xứ uỷ Bắc kỳ triệu tập họp ở Tây Mỗ nhưng phải di chuyển đi nơi khác vì cảm thấy không được an toàn.
 
Khoảng tháng 6/1941 có một anh làm thợ may ở Đôn Thư đến ở phố Đại Mỗ(1). Anh này trong thời kỳ phong trào Hội Ái hữu thợ dệt hoạt động công khai có biết một số anh em lãnh đạo phong trào địa phương nhưng bản thân anh không tham gia công tác gì, khi nói chuyện với mọi người hay tỏ ra là người công tác hội kín nên bị bọn mật tham theo dõi rồi bắt anh ta. Vì không chịu được đòn tra tấn của địch, anh ta khai cùng làm thợ may công tác thanh niên phản đế với anh L ở Tây Mỗ và một số cán bộ lãnh đạo Tây Mỗ, Đại Mỗ. Sau đó địch liền mở một đợt vây ráp trong một tháng đưa mật thám về hai xã truy lùng. Nhiều cán bộ, đoàn viên gia đình cơ sở cách mạng ở Đại Mỗ như các anh Nguyễn Hữu Vượng, Phan Huy Lâm, Lê Văn Diên, giáo Minh, anh Thu v.v… ở Tây Mỗ những cán bộ tiêu biểu như ông Chánh Hươu, anh Thảo, ông Nhu, ông Nhớn v.v… đều bị địch bắt đưa về giam giữ ở thị xã Hà Đông, tất cả hơn 50 người(2).
 
Về sau địch đưa số cán bộ và gia đình cơ sở cách mạng ra xét xử tại thị xã Hà Đông, kết án 10 người cho đi đầy ở các nhà tù. Anh Phan Huy Lâm cùng ông Chánh Hươu (Tây Mỗ) bị giam ở Hoả Lò, nhưng chỉ sau 1 năm vì tuổi già sức yếu ông Chánh Hươu bị mất ở trong tù. Anh Lâm bị án 5 năm tù, khi vào nhà lao anh tích cực công tác tham gia đấu tranh với địch đòi chúng phải cải thiện đời sống, bỏ những hình phạt hà khắc v.v… đối với tù nhân nên anh được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, sinh hoạt trong chi bộ nhà tù.
 
Nhưng sau do đấu tranh với địch, nhiều lần chúng bắt anh chịu những hình phạt hà khắc nên đến năm 1943 anh mất trong nhà tù Hoả Lò.
 
Từ sau đợt khủng bố giữa năm 1941, trừ 10 người bị án tù, chúng trả lại tự do cho 40 người phần lớn là đoàn viên, hội viên trở về hai xã Đại Mỗ, Tây Mỗ nhưng không ai hoạt động nữa. Lúc này ở Đại Mỗ một số cán bộ lãnh đạo, cơ sở cách mạng đi Sài Gòn làm ăn, cán bộ cấp trên không dám về liên lạc vì bọn mật thám thường dò la, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống một thời gian(3).
 
Khoảng giữa năm 1943, đồng chí Quốc Thuỵ (tức Sinh Cố) cán bộ Xứ uỷ Bắc kỳ được tăng cường cho Tỉnh uỷ Hà Đông về Đại Mỗ liên lạc rồi giao công tác cho anh Lê Văn Chỉnh, nhưng cơ sở cách mạng lúc này ở Đại Mỗ đã bị vỡ nên chưa khôi phục được. Anh Thuỵ thường chỉ giao cho anh Chỉnh làm liên lạc giúp Xứ uỷ, có lần chuyển thư lên tỉnh Phú Thọ.
 
Cuối năm 1943, phát xít Nhật về cắm đất của các làng Ngọc Trục, Đại Mỗ, La Khê, Vạn Phúc để lập sân bay mở rộng chiến tranh, trong đó làng Ngọc Trục bị chiếm nhiều nhất tới 20 mẫu Bắc bộ. Phát xít Nhật đã cho lính về xây dựng ba ngôi nhà cho công nhân ở để xây dựng sân bay tại cánh đồng Chanh.
 
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Hà Đông, nhân dân các làng Ngọc Trục, Đại Mỗ, Vạn Phúc, La Khê đã tham gia cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật lập sân bay bằng cách vận động nhân dân cả kỳ mục, kỳ hào tới 7000 người ký vào bản kiến nghị gửi lên Phủ thống sứ Bắc kỳ. Cuối cùng Nhật phải bãi bỏ kế hoạch lập sân bay. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi.
 
Để tăng cường vơ vét vật lực của nước ta phục vụ cho cuộc chiến tranh đế quốc ngày càng mở rộng, đầu năm 1944, thông qua chính quyền cơ sở của Pháp, phát xít Nhật bắt dân ta nộp thóc theo đầu sào sau khi đã nộp thuế gọi là “thu thóc tạ “mỗi sào thu 10kg. Tri phủ Hoài Đức đưa lính về Ngọc Trục khám xét bắt nộp thóc tạ. Nhiều gia đình còn ít thóc để ăn phải giấu vào trong đống rơm nhưng khi tìm được, chúng bắt đem nộp tập trung ở đình làng Mỗ Lao để Nhật cho xe ô tô chở đi. Ngoài ra chúng còn cho nhà thầu về các chợ làng thu mua thóc gạo làm cho nhân dân ta ngày càng kiệt quệ.
 
Từ giữa năm 1944, chiến tranh ngày càng mở rộng, máy bay Mỹ thường xuyên vào đánh phá ném bom vào các căn cứ của Nhật trên đất nước ta làm cho việc sản xuất và lưu thông ngày càng khó khăn, do đó các nghề thủ công như dệt lụa, thêu ren, đan bồ v.v… ngày càng ế ẩm, lao động thiếu việc làm, đời sống khó khăn nên nhân dân ta càng căm thù Nhật-Pháp, hướng về cách mạng.
 
Trong lúc đó các cơ sở cách mạng ở nhiều nơi như Vạn Phúc, Tây Mỗ, Vân Canh đã được phục hồi và có sự chỉ đạo của Xứ uỷ Bắc kỳ và những nơi đó trở thành an toàn khu của Xứ uỷ.
 
Rồi từ Vạn Phúc, Xứ uỷ cử cán bộ về Đại Mỗ tìm những anh em hoạt động cũ gây lại cơ sở, vận động nhân dân mua tín phiếu ủng hộ cách mạng. Anh Lê Văn Chỉnh đã mua 1 tín phiếu và vận động một số gia đình yêu nước có khả năng kinh tế như bà Lê Thị Nghĩa, ông Nguyễn Đình Văn v.v… mua tín phiếu mỗi tờ 500 đồng(1). Cùng lúc đó từ Tây Mỗ, Xứ uỷ cử cán bộ sang Đại Mỗ gây dựng lại cơ sở(2), vận động nhân dân mua tín phiếu ủng hộ cách mạng(3) và giao một số công tác của Xứ uỷ.
 
Ở Ngọc Trục có một số thanh niên như các anh Bạch Ngọc Thụ, Nguyễn Văn Tước, trước kia đã từng được đồng chí Nguyễn Hữu Hưng ở Tây Mỗ tuyên truyền giác ngộ cách mạng, sau khi đồng chí Hữu Hưng bị địch bắc đày đi Sơn La thì mất liên lạc đến cuối năm 1944 mới lại được Xứ uỷ cử cán bộ đến giao nhiệm vụ công tác ở địa phương.
 
Đầu năm 1945, do phát xít Nhật-Pháp thi nhau vơ vét thóc gạo nên cả miền Bắc nước ta xảy ra nạn đói. Trong các thôn, cán bộ và nhân dân đều vận động bà con ta đùm bọc lẫn nhau, nhưng vì đã kiệt quệ nên ở thôn nào cũng có nhiều người chết đói như Ngọc Trục 200 người, nhiều nhà tới 9 hoặc 22 người chết.
 
Lúc đó ở Ngọc Trục có 3 ngôi nhà Nhật làm định lập sân bay nhưng sau không làm được nên chính quyền địch dùng đó làm trụ sở để đưa những người bị đói ở thị xã về đấy cứu tế, nhưng họ cũng không đủ gạo nên số người đến đây bị chết dần tới hàng vạn người, bọn chúng lấy ruộng Ngọc Trục làm nghĩa trang đào từng hố lớn chôn tập thể.
 
Trước tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến, phát xít Nhật đảo chính lật đổ chính quyền Pháp vào ngày 9/3. Cuộc đảo chính chỉ diễn ra có một đêm là xong. Chính quyền tay sai của Pháp từ cấp tỉnh đến xã vẫn được duy trì như trước nhưng tư tưởng của họ rệu rã vì chưa hiểu tâm địa ông chủ mới của họ nhưng thế nào nên cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở cách mạng hoạt động(1).
 
Giữa tháng 8/1945, cao trào cách mạng lên mạnh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, ngày 19/8/1945 được lệnh của Xứ uỷ Bắc kỳ huy động nhân dân trong xã xuống thị xã Hà Đông tham gia giành chính quyền ở tỉnh nhưng do tên Quản Dưỡng chỉ huy lính khố xanh của Nhật chống lại và cũng ngày hôm đó vỡ đê Đông Lao gây ra ngập cả đường 70 nên cuộc vũ trang giành chính quyền ở tỉnh gặp khó khăn phải chậm lại mấy ngày.
 
Không chờ giành chính quyền ở tỉnh, nhân chính quyền của địch tan rã, ngày 21/8/1945 được sự hỗ trợ của tự vệ Tây Mỗ, nhân dân Đại Mỗ họp mít tinh ở đình xoá bỏ chính quyền tay sai của Nhật, bầu Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời cử ông Lê Văn Chỉnh làm chủ tịch và ông Đỗ Tiến Đồng làm phó chủ tịch.
 
Cùng thời gian đó, nhân dân Ngọc Trục dưới sự chỉ đạo của các anh Bạch Ngọc Thụ và Nguyễn Văn Tước họp mít tinh ở đình bầu uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời cử ông Nguyễn Văn Sính-một nhân sĩ yêu nước ở địa phương làm chủ tịch.
 
Ở thôn Giao Quang từ trước vốn thuộc xã Phú Đô, lúc này có anh Nguyễn Xuân Tề cùng một số thanh niên yêu nước đã được một số cán bộ ở Tây Mỗ giác ngộ cách mạng đã yêu cầu cán bộ Tây Mỗ xuống hỗ trợ tổ chức họp mít tinh nhân dân trong thôn xoá bỏ chính quyền địch, bầu uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời do ông Đào Văn Giáp làm chủ tịch, anh Nguyễn Xuân Tề phụ trách quân sự.
 
Trong vòng một tuần cuối tháng 8/1945, nhân dân các thôn ở Đại Mỗ đều vùng lên xoá bỏ chính quyền cũ, chính quyền mới được thành lập, nhân dân Đại Mỗ từ nay làm chủ đời mình.
 
Kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858) đến trước năm 1945, nhân dân ta đã trải qua gần trăm năm vô cùng tủi nhục. Có thấm nỗi mất nước mới thấy vinh quang của dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, nhân dân Đại Mỗ cùng nhân dân tỉnh Hà Đông đứng lên giành chính quyền, đập tan xiềng xích nô lệ, giành độc lập tự do, bước vào thời kỳ mới xây dựng và bảo vệ chính quyền ở giai đoạn tiếp theo.
 
CHƯƠNG II
ĐẠI MỖ GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN
VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(9/1945 - 1954)
 
I. XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN, CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN (9/1945 - 12/1946)
 
Sau cách mạng tháng Tám, trong bối cảnh chung của cả nước, xã Đại Mỗ đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách. Nạn đói khủng khiếp do phát xít Nhật gây ra chưa được khắc phục thì nguy cơ về một trận đói lớn lại ập đến do đê sông Đáy ở Đông Lao bị vỡ. Vụ mùa 1945 gần như mất trắng. Việc làm vụ chiêm gặp rất nhiều khó khăn vì nguồn thóc giống cạn kiệt, hạn hán kéo dài 3 tháng. Văn hoá lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến để lại rất nặng nề: 90% dân số trong xã mù chữ, các tục lệ ma chay, cưới xin, rượu chè, cờ bạc phát triển. Bệnh sốt rét định kỳ hoành hành làm gần 200 người chết. Bọn tay chân Quốc dân Đảng phản động tung tin thất thiệt, nói xấu chế độ, quân Tưởng mượn danh nghĩa đồng minh về chợ Mỗ sách nhiễu làm tăng thêm khó khăn phức tạp cho địa phương.
 
Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn phức tạp này, chính quyền và nhân dân địa phương đại Mỗ cũng có những thuận lợi cơ bản. Trước hết là có Đảng lãnh đạo, có chính quyền nhân dân do một số cán bộ đã qua thử thách trong thời kỳ bí mật. Nhân dân địa phương vốn cần cù lao động, giàu lòng yêu nước, tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và chế độ mới. Sau khi cách mạng thành công, quần chúng nhân dân đang có khí thế vươn lên xây dựng chế độ mới. Những thuận lợi ấy đã giúp cho cán bộ và nhân dân địa phương tin tưởng bước vào thời kỳ mới của cách mạng.
 
Yêu cầu về tình hình và nhiệm vụ mới của cách mạng đòi hỏi phải nhanh chóng củng cố chính quyền nhân dân, thực hiện lời kêu gọi: “diệt giặc dốt, giặc đói” của Hồ Chủ tịch. Ngay sau khi khởi nghĩa thắng lợi, chính quyền nhân dân lâm thời được củng cố, đảm nhiệm việc điều hành các công việc mới.
 
Nhiệm vụ hàng đầu mà chính quyền và các đoàn thể trong xã quan tâm và tập trung giải quyết là việc cứu đói. Một mặt chính quyền vận động nhân dân và các đoàn thể tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau, với tinh thần thân thương” lá lành đùm lá rách”, các tầng lớp nhân dân trong xã đã tiết kiệm thóc gạo và tiền của để giúp đỡ các gia đình bị thiếu đói. Một số nhà giàu còn nấu cháo phát chẩn ở đình như bà Tham Ý ở Đại Mỗ, bà Lê Thị Ca mua 100 chiếc chăn chiên phát cho nhiều người nghèo trong xã. Một số cán bộ trong uỷ ban nhân dân lâm thời ở Đại Mỗ đã bỏ tiền riêng ra Hà Nội mua được 12 tạ gạo về bán chịu cho nhân dân. Mặt khác, chính quyền cũng tích cực thi hành các chính sách của Chính phủ như vận động cho hoãn nợ vay, cho vay không lấy lãi, giảm tô v.v… Đi đôi với tổ chức cứu đói khẩn cấp, chính quyền đã phát động toàn dân trồng rau màu ngắn ngày để cứu đói. Hàng trăm mẫu ngô khoai và các loại rau được trồng trong vụ thu-đông-xuân 1945-1946 cho thu hoạch khá. Nông hội huy động nhân công sửa đường đi, đắp giữ các cừ đìa để có nước cày cấy; vận động nông dân tương trợ nhau về giống vốn, nhân lực và sức kéo. Nhờ những biện pháp trên đây, đến đầu 1946 nạn đói đã căn bản bị đẩy lùi. Cùng với sản xuất nông nghiệp, nghề dệt cũng được phục hồi, nhưng do khó khăn về vốn và nguyên liệu nên chưa vững chắc.
 
Đi đôi với việc giải quyết nạn đói, hưởng ứng lời kêu gọi diệt giặc dốt của Hồ Chủ tịch, chính quyền nhân dân cũng triển khai ngay việc xoá nạn mù chữ. Ban bình dân học vụ của xã được thành lập, đã tích cực vận động nhân dân và tổ chức cho các tầng lớp nhân dân đến lớp học. Hầu như xóm nào cũng có lớp học, mỗi lớp 30-40 người, có lớp tới 70 người. Các giáo viên đều là những người làng, đa số là cán bộ xã đã không quản khó khăn, thiếu thốn và bận rộn đem hết sức mình dạy chữ cho dân. Nhiều biện pháp và hình thức tuyên truyền cổ động cho phong trào học chữ quốc ngữ như khẩu hiệu, ca dao, hò vè… được áp dụng, đôi khi cả biện pháp hành chính. Phương pháp học được diễn đạt thành thơ, ca dao đã có tác dụng truyền đạt nhanh. Sau hơn 1 năm phong trào diệt giặc dốt đem lại kết quả: hơn 1000 người thoát khỏi nạn mù chữ, góp phần mở mang dân trí, nâng cao ý thức tham gia xây dựng đất nước của nhân dân trong xã. Chính quyền mới cũng vận động giảm bớt các hủ tục hội hè, đình đám, ma chay, cưới xin và các tệ nạn xã hội khác. Ban y tế xã được thành lập đã vận động nhân dân thường xuyên làm vệ sinh làng xóm, xin thêm cán bộ y tế về phát thuốc, tiêm chủng cho nhân dân, hạn chế tác hại của dịch bệnh. Các tệ nạn rượu chè, cờ bạc, mê tín dị đoan bị xoá bỏ. Nhân dân xã Đại Mỗ còn tích cực đóng góp công sức vào sự nghiệp cách mạng của cả nước. Chính quyền xã huy động hàng trăm nhân công, đóng góp hàng trăm cây tre, gỗ phối hợp với các xã bạn hàn đắp và tôn cao đê sông Đáy (bị vỡ ở Đông Lao), góp phần đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống. Trong 2 tháng 9 và 10/1945, với ý thức tham gia xây dựng đất nước, nhân dân Đại Mỗ đã hưởng ứng” Tuần lễ vàng” do Hồ Chủ tịch kêu gọi nhằm giải quyết khó khăn nghiêm trọng về tài chính của Nhà nước. Xã đã thành lập Ban thu vàng do chị em phụ nữ đảm nhiệm. Nhân dân trong xã không quản thiếu thốn đã đem vàng bạc của cải đóng góp xây dựng đất nước. Chỉ riêng ở thôn Đại Mỗ có hơn 10 người ủng hộ. Có người góp tới 2 chỉ vàng. Những người không có vàng bạc thì góp tiền, thóc, mâm thau, nồi đồng, lư đỉnh. Tiếp đó, sau khi quân đội Anh gây hấn ở Nam bộ, đông đảo nhân dân trong xã đã ra thị xã Hà Đông dự mít tinh phản đối hành động xâm lược của quân đội Anh, ủng hộ đồng bào miền Nam kháng chiến. Ngày 6/1/1946, cùng với cả nước, cử tri trong xã đã sôi nổi tham gia cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của cả nước, bầu cho 3 đại biểu thuộc đơn vị bầu cử ở địa phương là các ông: Xuân Thuỷ, Bùi Bằng Đoàn, Cù Huy Cận. Thời kỳ này, nhiều thanh niên trong xã đã lên đường Nam tiến, đồng thời một số cán bộ xã được điều đi tăng cường cho huyện và các xã bạn.
 
Công tác xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ an ninh thôn xóm cũng được chú trọng. Mỗi thôn có một trung đội tự vệ, riêng ở thôn Đại Mỗ, mỗi xóm có một trung đội, vũ khí có 4 khẩu súng trường do ngân quỹ của xã cấp. Lực lượng tự vệ xã ngày đêm tuần tra bảo vệ an ninh thôn xóm. Nhờ đó, nạn trộm cắp bị đẩy lùi. Một số phần tử có hành động nói xấu chế độ bị xử lý. Chính quyền mới cùng lực lượng vũ trang địa phương thường xuyên giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng cho toàn thể nhân dân trước những luận điệu xuyên tạc của địch, làm cho nhân dân tin tưởng vào chế độ mới.
 
Những việc làm trên đây nhằm xây dựng một cuộc sống mới trong những ngày tháng sau Cách mạng tháng Tám đầy gian khổ, tuy chưa toàn diện những đã tỏ rõ năng lực quản lý xã hội của chính quyền mới và ý chí quyết tâm làm chủ đất nước của nhân dân. Người dân Đại Mỗ đã có sự đổi đời về địa vị chính trị và quyền lợi kinh tế. Tháng 4/1946, nhân dân xã Đại Mỗ nô nức tham gia cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã. Sau đó, Uỷ ban hành chính xã Đại Mỗ được thành lập do ông Lê Văn Chỉnh làm chủ tịch, thay thế Uỷ ban lâm thời. Trong Uỷ ban có đại diện của các tầng lớp nhân dân. Các bộ phận giúp việc cho Uỷ ban như Ban sản xuất, Ban tài chính, Ban y tế, văn hoá xã hội v.v… được củng cố.
 
Tháng 9/1946, tự vệ thôn Ngọc Trục đã bảo vệ chu đáo lớp huấn luyện cán bộ cho vùng La-Mỗ.
 
Từ đầu tháng 10/1946 trở đi, quan hệ giữa ta và Pháp ngày càng căng thẳng. Trung ương Đảng nhận định chiến tranh khó tránh khỏi. Trước tình hình đó, chính quyền xã tổ chức triển khai việc chuẩn bị chiến đấu và hậu cần (vì Đại Mỗ là một điểm hậu phương của Hoài Đức khi chiến sự ở nội thành nổ ra). Đầu tháng 11/1946, Uỷ ban bảo vệ của xã được thành lập(1), các thôn lập làng chiến đấu, đào hàng trăm mét giao thông hào ven bờ sông Nhuệ. Các phương án tản cư, làm “vườn không nhà trống” cùng các phương án tác chiến được xây dựng. Các đội tự vệ được tăng cường quân số và trang bị, tích cực luyện tập. Chính quyền xã đã tạo điều kiện cơ bản về vật chất, tinh thần để nhân dân sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu với quân thù. Giữa tháng 11/1946, Đại Mỗ nhận được chỉ thị chuẩn bị nơi ở và làm việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính quyền xã đã làm tốt mọi công việc nhưng vì nhiều lý do Chủ tịch Hồ Chí Minh không về làm việc tại địa phương mà chuyển lên Vân Canh (Hoài Đức).
 
II. ĐẠI MỖ GÓP PHẦN GIAM CHÂN ĐỊCH TRONG NỘI THÀNH, CHIẾN ĐẤU CHỐNG ĐỊCH LẤN CHIẾM VÀ HOẠT ĐỘNG TRONG VÙNG TẠM CHIẾM (THÁNG 12/1946-CUỐI 1950)
 
Đêm 19/12/1946, tiếng súng kháng chiến nổ ra ở Thủ đô Hà Nội. Cùng với cả nước, nhân dân Đại Mỗ nhất tề đứng lên chiến đấu theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 
Đại Mỗ nằm ở cửa ngõ phía tây nam thành phố Hà Nội và thị xã Hà Đông, hội tụ các đường giao thông, đường 70 con đường cổ Cầu Đôi-Cầu Giấy và trên bờ sông Nhuệ. Đây là địa bàn vận chuyển binh lính và các phương tiện chiến tranh từ trung tâm Hà Nội ra các vùng quân sự có vị trí chiến lược quan trọng như: Sơn Tây, Hoà Bình. Do đó Đại Mỗ và các làng xã trong vùng là một trong những điểm mà địch quyết bình định bằng được nhằm tạo vành đai bảo vệ sào huyệt của chúng ở Hà Nội. Đại Mỗ cùng với các làng trong vùng còn là nơi đông dân, giàu tiềm lực kinh tế, có thể cung cấp cho bộ máy chiến tranh; một địa bàn thuận lợi để giặc Pháp thực hiện âm mưu thâm độc “dùng người Việt trị người Việt”, “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Mặt khác các thế lực phản động gồm sĩ quan binh lính cũ, một số địa chủ cường hào có quyền lợi chính trị-kinh tế cũng chống phá kháng chiến quyết liệt. Những cơ sở và những đặc điểm trên đã buộc quân và dân Đại Mỗ sớm bước vào cuộc chiến đấu cam go và cực kỳ ác liệt trong suốt tám năm kháng chiến.
 
Tuy nhiên, Đại Mỗ là một trong những nơi sớm có truyền thống cách mạng. Với lực lượng đông, chủ yếu là nông dân và thợ thủ công vừa được cách mạng giải phóng; một bộ phận sớm được giác ngộ và rèn luyện trong thời kỳ hoạt động bí mật. Hơn một năm xây dựng chế độ mới, Đại Mỗ đã đào tạo được đội ngũ cán bộ gồm hầu hết là thanh niên, có giác ngộ lý tưởng cộng sản, tuyệt đối trung thành với cách mạng, có kinh nghiệm công tác cho nên đã tạo điều kiện phong trào kháng chiến địa phương phát triển.
 
Sau khi tiếng súng kháng chiến nổ ra ở Thủ đô, Tỉnh uỷ Hà Đông chỉ thị cho các địa phương gấp rút củng cố, chấn chỉnh đội ngũ tự vệ, dân quân các xã và huyện sẵn sàng chiến đấu, đồng thời lãnh đạo nhân dân thực hiện chủ trương” tiêu thổ kháng chiến, làm vườn không nhà trống”. Đảng bộ Hoài Đức cũng quán triệt nhiệm vụ của quân và dân trong huyện lúc này là “Phát động toàn dân kháng chiến, ra sức xây dựng Đảng và chính quyền, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng du kích, phát triển kinh tế, văn hoá”.
 
Thực hiện các chủ trương trên, các làng bố trí tự vệ canh gác ngày đêm trên các điểm trọng yếu, kiểm soát chặt chẽ những người lạ mặt qua lại trong địa bàn, giám sát những phần tử có nghi vấn chính trị. Nhân dân và lực lượng tự vệ hai thôn Giao Quang và Ngọc Trục đã cùng các thôn trong tiểu khu Phú Đô đào hào từ Phú Mỹ qua Nhân Mỹ đến Mễ Trì, theo ven các bờ tre, đặt các ụ súng. Hai thôn Đại Mỗ và An Thái đào hào chiến đấu từ chợ Mỗ ra ven sông Nhuệ ở Cầu Đôi. Nhân dân Giao Quang còn đào hào đắp ụ ở thị xã Hà Đông. Bảy thanh niên của thôn Đại Mỗ đã gia nhập “Cảm tử quân”, tham gia chiến đấu ở nội thành. Thực hiện khẩu hiệu “Phá hoại quan trọng như tác chiến”, nhân dân trong xã đã tham gia chiến dịch “Tiêu thổ kháng chiến” với y thức tự giác. Các nhà gác bị dỡ bỏ, đường giao thông từ Mỗ đi Chùa Tổng, Nhổn và Cầu Giấy, thị xã Hà Đông đào phá nhiều đoạn, Cầu Đôi phá sập. Nhân dân còn góp nhiều rơm rạ, hàng nghìn cây tre, gỗ để đắp ụ làm vật cản trên các đường giao thông. Các đội dân công cũng tham gia phá hoại khu vực Ngã Tư Sở, Bạch Mai, Cầu Diễn, thị xã Hà Đông, Chùa Tổng… Các đoàn tiếp tế tổ chức nhiều đợt uý lạo bánh trái cho bộ đội. Nhân dân thôn Đại Mỗ chuẩn bị đủ chỗ ăn nghỉ, đồ dùng để đón các đơn vị bộ đội, cơ quan báo Lao động. Thôn Giao Quang còn tiếp nhận và bảo quản một bộ phận điện đài của Trung ương, vận chuyển, bảo quản 4 cót thóc công (thu của địa chủ Cự Đà) từ Phú Mỹ mang sang. Đặc biệt nhân dân trong xã còn quyên góp được 5 lạng vàng nộp cho huyện để xây dựng quỹ “Quỹ kháng chiến”. Đêm 30 Tết Đinh Hợi 1947, Đại Mỗ được đón các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Trân, Trần Duy Hưng, Vương Thừa Vũ về kiểm tra công tác chuẩn bị chiến đấu. Ngoài ra nhân dân trong xã còn đón tiếp hàng nghìn đồng bào từ Thủ đô tản cư về, thể hiện tình thương yêu đùm bọc đối với đồng bào vùng có chiến sự.
 
Qua 60 ngày, kể từ khi tiếng súng kháng chiến bùng nổ, quân và dân Đại Mỗ đã tích cực chuẩn bị chiến đấu, thm gia phục vụ chiến đấu, xứng đáng là một điểm của hậu phương Hoài Đức ngay sát mặt trận Hà Nội. Đây là giai đoạn quân và dân địa phương tự rèn luyện, đúc rút kinh nghiệm về chuẩn bị tổ chức chiến đấu để sẵn sàng đương đầu với địch khi chúng mở rộng vùng chiếm đóng. Trong quá trình ấy, hai thanh niên ở Ngọc Trục là Bạch Ngọc Thụ và Nguyễn Văn Tước cùng với một số thanh niên trong tiểu khu Phú Đô được kết nạp vào Đảng để thành lập chi bộ Phú Đô. Chi bộ đã lãnh đạo phong trào kháng chiến ở cả 2 khu Phú Đô và Mỗ.
 
Sau Tết Đinh Hợi (1947), từ nội thành địch mở rộng các hoạt động quân sự nhằm chiếm giữ vùng nông thôn ngoại thành đông dân giàu có. Ngày 2/3/1947, địch dùng xe cơ giới đánh vòng ra chiếm các vị trí Phùng, Thanh Quang, Hai Lĩnh… mở rộng khu vực chiếm đóng nhằm bảo vệ an toàn cho các cơ quan đầu não ở nội thành. Chúng lập phòng tuyến sông Nhuệ với một hệ thống đồn bốt dày đặc, trong đó có bốt Cầu Đôi, bốt Trung Văn nhằm khống chế trực tiếp với địa phương. Từ hai bốt, địch mở các cuộc lùng sục nhằm đánh phá các cơ sở du kích, cướp bóc, khủng bố nhân dân. Tháng 7/1947, địch bỏ bốt Cầu Đôi để đóng bốt Đại Mỗ với quy mô lớn hơn. Bốt gồm lô cốt hai tầng dày với hệ thống vòm canh có lỗ châu mai, xung quanh bốt là ba lớp hàng rào bằng tre, dây thép gai có gài mìn. Khi bị tấn công địch có thể dùng dây nói hoặc pháo hiệu để gọi quân hoặc pháo tiếp viện từ thị xã Hà Đông lên. Lúc đầu lực lượng địch có một trung đội lính Âu Phi với đầy đủ vũ khí.
 
Tháng 10/1947 mở rộng vùng chiếm đóng, chúng lập ra phòng tuyến 3 (phòng tuyến sông Đáy), xây thêm các bốt Thanh Quang, Chùa Tổng. Đại Mỗ trở thành tuyến hai. Để tập trung quân chủ lực cho chiến trường Việt Bắc, giặc Pháp đã giao bốt Mỗ cho nguỵ quân do tên Bếp Tý chỉ huy nhằm thực hiện âm mưu “dùng người Việt trị người Việt”. Lực lượng nguỵ quân lúc đông nhất có 40 tên, trong đó 29 tên lính cầm súng, ngoài ra còn một số tên làm việc hành chính theo chế độ quân quản. Về trang bị, địch có 26 súng trường, một tiểu liên, một súng phóng lựu đạn. Từ bốt Mỗ, hàng ngày cha con Bếp Tý chỉ huy đốc thúc bọn lính đi vây càn, cướp bóc, gây nhiều tội ác với nhân dân(1).
Đi đôi với việc thiết lập hệ thống đồn bốt, dùng nguỵ quân để khống chế nhân dân, địch còn dùng mọi thủ đoạn để ép buộc các thôn xã trong vùng thiết lập bộ máy tề làm cơ sở chính trị kéo dài chiến tranh. Cho đến giữa tháng 11/1947 bộ máy tề ở các làng xã trong vùng đã được dựng lên. Tập hợp trong bộ máy tề ở các làng đa số là những binh lính, cai đội cũ, những cựu kỳ mục và cường hào phản động cùng bọn lưu manh côn đồ, du thủ du thực.
 
Trước những đợt hành quân lấn chiếm, vây quét của địch, tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể và dân quân du kích địa phương ban đầu gặp nhiều khó khăn, lúng túng, đa số cán bộ du kích phải bật ra vùng tự do, phần lớn nhân dân đi tản cư. Tháng 10/1947 vào vụ gặt, do khó khăn về đời sống, nhân dân phải trở về làng. Cuối tháng 10 nhằm nắm chặt dân để dễ bề kiểm soát và tách cán bộ du kích ra khỏi sự che chở của dân, địch bắt lấy thẻ căn cước, thường xuyên bất ngờ bắt dân lên đình kiểm tra thẻ. Tình hình đó tiếp diễn đến cuối năm 1947.
 
Tuy nhiên, phong trào kháng chiến địa phương đã kịp thời được Huyện uỷ Hoài Đức chỉ đạo sát sao. Ngay sau khi địch mở đợt lấn chiếm đầu tiên (3/1947) Huyện uỷ đã triệu tập hội nghị cán bộ huyện để quán triệt tình hình, ổn định tư tưởng và phổ biến kế hoạch đối phó. Tiếp đó, tháng 5/1947, Đại hội Đảng bộ huyện Hoài Đức lần thứ nhất đã đề ra kế hoạch phát động chiến tranh toàn dân, quyết tâm phá tan âm mưu chiếm đóng bình định của địch. Được các nghị quyết của huyện Đảng bộ chỉ dẫn, chi bộ Đảng(1) và chính quyền xã đã lãnh đạo nhân dân chống địch lấn chiếm. Ngay khi địch mở đợt tấn công đầu tiên, nhân dân và một phần lớn cán bộ trong Uỷ ban xã phải bật ra vùng tự do, nhưng tại mỗi thôn vẫn có một số cán bộ du kích sống bí mật hoặc hợp pháp công khai ở lại bám giữ cơ sở, ổn định tổ chức, thu thập tình hình. Lực lượng du kích sau khi được củng cố lại đã tiến hành các hoạt động đầu tiên như: cắt dây điện thoại từ Hà Đông về Mỗ, quấy rối các bốt. Đặc biệt lúc này cả vùng Mỗ-Phú Đô đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Huy, huyện uỷ viên. Theo yêu cầu của Huyện uỷ, tháng 6/1947 đã cho thành lập đội danh dự trừ gian gồm 6 đảng viên của các thôn trong vùng do đồng chí Nguyễn Văn Tước làm đội trưởng. Nhiệm vụ của đội là phá tề, trừng trị bọn Việt gian có nhiều nợ máu, hỗ trợ cho nhân dân và du kích chiến đấu. Tiếng tăm của đội nổi khắp vùng. Bọn Việt gian định lập tề ở Hoài Đức phải khiếp sợ. Đội hoạt động cho tới trước khi thành lập Liên quận huyện (1948). Trong quá trình công tác và chiến đấu đồng chí Nguyễn Huy Tước đã hy sinh tại Ngọc Kiệu.
 
Tháng 11/947, sau một thời gian giằng co, lợi dụng mùa gặt địch dùng một lực lượng lớn có xe cơ giới yểm trợ vây quét đồng loạt các thôn. Trước sức ép của địch, các thôn còn lại chưa lập tề trong vùng như Đại Mỗ, An Thái, Tây Mỗ… đã buộc phải thiết lập bộ máy hành chính của địch. Kết hợp với việc quản lý người dân, địch rào kính làng xóm, bắt tuần canh gác suốt ngày đêm làm cho cán bộ ta vào làng rất khó khăn.
 
Trong bối cảnh bị địch khủng bố và o ép, phong trào kháng chiến Đại Mỗ vẫn được Đảng chỉ đạo. Tháng 3/1948, Hội nghị cán bộ toàn thành Hà Nội(1) đã đề ra nhiệm vụ cấp bách cho vùng địch hậu là “làm thất bại kế hoạch lập phòng tuyến bao vây của địch và phát động phong trào chiến tranh du kích rộng rãi ở sau lưng địch để bao vây lại chúng”. Tiếp đó, tháng 5/1948, Đại hội lần thứ nhất của Đảng bộ huyện Liêu Bắc đã phát động phong trào chiến tranh du kích ở vùng tạm chiếm, phá tan kế hoạch bình định và chiếm đóng của địch. Những chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ cấp trên đã giúp phong trào kháng chiến Đại Mỗ đi đúng hướng. Chi bộ xã đã ổn định tổ chức, đưa cán bộ đảng viên về phục hồi cơ sở. Từ các căn cứ trú chân lập ở ngoài đồng, cán bộ du kích ta tìm cách vào làng, ở các gia đình trung kiên. Sau một thời gian ngắn, các cán bộ đảng viên đã vận động nhân dân đào hàng loạt căn hầm bí mật với nhiều kiểu hình ở hầu khắp các xóm. Cùng thời gian đó các đội vũ trang tuyên truyền của trung đoàn 48 đã luồn vào các làng quanh bốt Mỗ phát động quần chúng nổi dậy phá tề trừ gian, xây dựng lực lượng kháng chiến. Hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng được củng cố lại nhanh chóng đi vào hoạt động. Đội du kích tập trung của xã do đồng chí Xuân Tề làm đội trưởng được thành lập.
 
Với phương châm “làm chủ ban đêm, tiến lên làm chủ ban ngày”, chi bộ Đảng đã lãnh đạo nhân dân thực hiện chủ trương” phá tề trừ gian, thu thẻ căn cước”. Để xoá thế kìm kẹp của địch, chi bộ đã phát động chiến dịch thu thẻ và xé thẻ căn cước của địch. Trong cuộc “tổng phá tề” du kích xã phối hợp với bộ đội trừng trị một số tên tay sai đầu sỏ, số khác bị cảnh cáo, hoảng hốt phải lên bốt Mỗ ở. Số hội tề còn lại ở làng nể sợ kháng chiến. Trong tình hình đó, ta chủ trương nắm chặt bộ máy tề và đưa người ra làm tề tạo điều kiện cho du kích, cán bộ hoạt động. Du kích tập trung xã tiến hành tập kích bốt Phú Đô, phục kích binh lính ở bốt Mễ đi tuần tại khu vực Cầu Dộc, một tên lính trúng mìn đã bị thương. Lực lượng du kích xã còn 4 lần tổ chức trừng trị tên Bếp Tý, nhưng do nhiều điều kiện khách quan nên hắn thoát chết.
 
Ngoài ra ta còn tổ chức các đợt tuyên truyền về tin chiến thắng trên khắp chiến trường tại nhiều nơi như chợ Mễ Trì, xóm Đình; nhằm vào lúc nhân dân họp chợ đông, ta cử cán bộ ra diễn thuyết. Truyền đơn kêu gọi binh lính quay về với kháng chiến được rải đi khắp nơi. Trong năm 1948, Đại Mỗ không những tổ chức tiếp đón hàng binh Đức, đưa ra vùng tự do mà còn là trạm giao liên giữa nội, ngoại thành phía tây của Hà Nội, nhiều lần tổ chức tiếp nhận đưa đón, bảo vệ chu đáo các đoàn cán bộ qua địa phương.
 
Trên mặt trận đấu tranh kinh tế, ta tổ chức thu các mặt hàng xa xỉ của địch do một số nhà buôn đem về bán tại chợ Mỗ. Ở Tây Mỗ qua điều tra phát hiện 5 địa chủ kiêm tư sản buôn với một lượng hàng hoá khá lớn (chủ yếu là vải sợi của Pháp). Trước tình hình đó, lãnh đạo xã thành lập ban chỉ đạo, lên kế hoạch bắt kiểm tra. Nhân dân thôn Giao Quang được nhận nhiệm vụ chuẩn bị quang tre, đòn gánh để vận chuyển hàng thu giữ. Theo đúng kế hoạch, 7 giờ tối, du kích và quần chúng tích cực các thôn Phú Thứ, Tây Mỗ triển khai lực lượng bao vây các nhà buôn, du kích, quần chúng Giao Quang, An Thái, Đại Mỗ vào kiểm tra và thu hàng. Hơn 30 gánh vải được chuyển ra vùng tự do. Trong số này huyện dành laịi cho xã một phần để may quần áo cho du kích và bán lấy tiền để phát động thi đua, phần khác hỗ trợ cho thôn Giao Quang đang khó khăn về kinh tế.
 
Phong trào phá tề trừ gian đã thu hút đông đảo quần chúng hăng hái tham gia. Nhiều hoạt động kháng chiến như thu thuế công lượng, điền thổ; vận động hầu hế các gia đình binh lính mua công phiếu kháng chiến, có người mua tới 3-4000 đồng (tiền Đông Dương). Hưởng ứng phong trào “Mùa đông binh sĩ”, nhiều gia đình trong xã ủng hộ quần áo gửi ra mặt trận.
 
Thu đông 1948, địch mở những cuộc hành quân lớn đánh ra Xuân Mai Hoà Bình nhằm nối liền hành lang Đông-Tây lập khu tam giác Hà Nội - Sơn Tây - Hoà Bình hòng cắt đứt liên lạc giữa các khu kháng chiến. Thực hiện âm mưu đó, địch giao các bốt lẻ cho quân nguỵ đóng giữ, còn quân tinh nhuệ Pháp được tập trung vào chiến trường chính. Tình hình đó tạo điều kiện cho ta tiêu diệt đồn bốt Đại Mỗ.
 
Hội nghị Khu uỷ XI và Đại hội Đảng bộ khu Liên Bắc đề ra nhiệm vụ diệt đồn Đại Mỗ, giao nhiệm vụ cho hai chi bộ Mỗ-Phú Đô phối hợp với bộ đội thực hiện. Qua nghiên cứu tình hình địch, ta nhận thấy, trong số binh lính và tề ở bốt Mỗ, chỉ có cha con T và một số ít tên phản động, cam tâm làm tay sai cho địch, còn đa số là con em nhân dân địa phương, bắt buộc phải cầm súng, có thể tuyên truyền giáo dục, dùng họ làm nội ứng cho ta. Vì vậy đi đôi với việc chuẩn bị lực lượng bên ngoài, ta còn gặp gỡ thuyết phục được một số binh lính làm nhân mối, đồng thời đưa chị Nguyễn Thị Lan 16 tuổi thôn Tây Mỗ có tinh thần yêu nước vào bốt với danh nghĩa làm người hầu của T để điều tra tình hình trong bốt và liên lạc với những binh lính nhân mối bên trong bốt có cảm tình để lấy tin tức. Nhưng khi chị Lan chuyển hồ sơ bố phòng của bốt ra ngoài thì bị bắt, địch dò tìm được đầu mối, chúng giết chị Lan cùng 8 người là lính tề nhân mối của ta. Tuy bị tổn thất, nhưng ta vẫn quyết tâm diệt bốt. Đêm 22/8/1948, ta tiến hành đánh bốt lần thứ nhất, đại đội 225 của tiểu đoàn 56 (Trung đoàn 37) phối hợp với du kích Đại Mỗ tập trung thực hiện mũi chủ công này. Đồng thời, đại đội 262 của Trung đoàn 48 cùng du kích xã đánh bốt Phú Đô nhằm chặn viện binh cho bốt Mỗ. Một hướng khác do đại đội 248 thuộc tiểu đoàn 56 đánh La Khê, chặn địch từ Hà Đông xuống. Để đảm bảo bí mật cho trận đánh, ta đã xử lý tên tiên chỉ R… khi tên này về thôn An Thái đánh tổ tôm vào lúc du kích và bộ đội chuẩn bị xuất phát. Trận đánh không thành do phối hợp giữa lực lượng bên ngoài và nội ứng chưa thống nhất. Tuy nhiên, sau lần đó, địch lo sợ phải bắt thêm quân để phòng thủ. Lợi dụng cơ hội này, ta đưa 5 du kích vào lính làm nội ứng(1). Nhóm du kích nội ứng có nhiệm vụ liên lạc với các binh lính nhân mối đã vào từ trước(2) theo dõi tư tưởng binh lính trong bốt để ta phân loại, xử lý, vẽ sơ đồ bố phòng, báo cáo kế hoạch hành quân càn quét của địch. Sau hơn hai tháng nghiên cứu tình hình địch và chuẩn bị lực lượng, các chi bộ Đảng, cán bộ du kích Mỗ-Phú Đô hạ quyết tâm phối hợp với bộ đội tiêu diệt bốt. Mọi kế hoạch tác chiến giữa bộ đội du kích bên ngoài với anh em binh lính nội ứng được bàn bạc tỉ mỉ, thống nhất. Đêm 8/11/1948, du kích vùng Mỗ và bộ đội chủ lực thuộc Trung đoàn 48 từ vùng tự do Quốc Oai vượt sông Đáy, qua nhiều làng địch hậu, tập kết và triển khai lực lượng bao vây bốt, chặn quân tiếp viện. Vào khoảng 21 giờ quân ta nổ súng kết hợp gọi loa kêu gọi binh lính trong bốt hạ súng đầu hàng. Qua nửa giờ vẫn chưa thấy binh lính nhân mối và du kích nội ứng hành động vì tên chỉ huy bốt ra lệnh cho binh lính giữ nguyên vị trí chống trả nên anh em không giết được y. Trước tình hình đó, Ban chỉ huy đã tập trung hoả lực: dùng DKZ bắn sạt vòm canh, quân ta tiến sát hàng rào gọi loa thúc giục. Bọn chỉ huy bối rối, chớp thời cơ, anh em nội ứng nhanh chóng hành động. Khi tên phó sếp bốt đang thay đạn, một người lính nội ứng chạy qua bốt tiến về phía y và nổ súng tiêu diệt. Thấy con cái vây quanh xác con trai kêu khóc, tên bốt trưởng từ trên gác chạy xuống đốc thúc bọn lính chống trả rồi lại cầm súng chạy lên gác. Nhân lúc đó, một du kích nổ súng khiến y bị thương nặng. Sau khi hai tên tề phản động bị trừng trị, ta tổ chức cắt dây điện thoại từ bốt Mỗ đến thị xã Hà Đông, kêu gọi binh lính ngừng bắn và mở cửa đón bộ đội du kích vào bốt. Ta thu toàn bộ vũ khí gồm 1 súng phóng lựu, 1 tiểu liên, 26 súng trường cùng nhiều đạn dược, quân trang, quân dụng. Sau đó ta giải tù binh ra vùng tự do. Sáng hôm sau, địch từ thị xã Hà Đông đến cứu viện, chúng chỉ còn thấy đống gạch tro than và Bếp Ty đang nằm hấp hối, bèn đưa y đi viện nhưng không thoát khỏi cái chết.
 
Trận diệt bốt Đại Mỗ đã mở ra giai đoạn phát triển của phong trào chiến tranh du kích ở các huyện phụ cận Hà Đông. Sau trận đánh, các lực lượng quân sự chính trị của địa phương cũng như trong cả huyện Liên Bắc phát triển đều khắp. Nhân dân vô cùng phấn khởi, càng tích cực tham gia các hoạt động đóng góp cho kháng chiến. Về phía địch, trận diệt đồn Đại Mỗ là đòn đánh mạnh vào âm mưu “dùng người Việt trị người Việt” của chúng. Sau trận này mặc dù quân chủ lực Pháp đã kéo về xây lại bốt nhưng bọn tay sai vô cùng hoảng sợ. Một số tên tề phản động phải ra thị xã ở. Phần đông tề bỏ việc về nhà làm ăn. Phá bốt Đại Mỗ ta có điều kiện đưa thêm nhiều cán bộ, bộ đội vào Hà Nội.
Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh coi chiến thắng diệt bốt Đại Mỗ là trận điển hình của sự phối hợp giữa bộ đội và dân quân du kích địa phương, có tiếng vang trong cả nước bởi đã góp phần phối hợp với các mặt trận trung du và Liên khu III, không cho địch rảnh tay tập trung quân đánh các nơi khác. Đánh giá ý nghĩa trận diệt đồn Đại Mỗ, trong tập san “Sinh hoạt nội bộ” số 2 (12/1948) đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng viết:
 
 “Về chiến lược, tất cả các khu các mặt trận phải đánh mạnh để phối hợp chiến lược với các mặt trận trung du và mặt trận Liên khu II Bắc bộ, không cho địch tập trung quân và rảnh tay đánh những nơi đó; phải phá trận tấn công thu đông của địch về mọi mặt quân sự, kinh tế, chính trị…”
 
Thi hành những nhiệm vụ trên, ta đã thấy quân ta tiêu diệt vị trí Đại Mỗ, Hà Đông (8/11/1948).
 
Sau trận diệt bốt Đại Mỗ, tháng 12/1948, các thôn Tây-Đại Mỗ, Phú Thứ, Giao Quang, An Thái, Trung Văn, Ngọc Trục và Vạn Phúc hợp nhất thành xã Hữu Hưng do đồng chí Nguyễn Hữu Văn (Vạn Phúc) làm chủ tịch, đồng chí Xuân Tề (Giao Quang) làm xã đội trưởng và ông Trần Đăng Hiên làm uỷ viên thư ký. Mỗi thôn cử một uỷ nhiệm thôn phụ trách về hành chính và một đội phó phụ trách quân sự. Sau khi hợp nhất xã, tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể được củng cố thêm một bước. Chi bộ Đảng do đồng chí Bạch Ngọc Thụ làm bí thư, các thôn đều có tổ Đảng.
 
Những hoạt động phá tề trừ gian, diệt bốt Mỗ của quân và dân địa phương trong năm 1948 làm cho địch khiếp sợ, tìm cách đối phó, chúng liền đưa lính Âu Phi, lính nguỵ về dựng lại bốt rồi mở các trận càn quét. Tháng 3/1949, địch mở rộng chiếm đóng Sơn Tây, Vĩnh-Phúc Yên. Xã Hữu Hưng cũng như cả huyện Liên Bắc nằm sâu trong vùng địch kiểm soát. Cuộc chiến đấu của quân dân địa phương càng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên được sự chỉ đạo chặt chẽ của huyện uỷ Liên Bắc, chi bộ Hữu Hưng đưa cán bộ, đảng viên và du kích bám giữ cơ sở, tiếp tục phá tề, thu thẻ, xé thẻ, phục kích tại nhiều địa điểm. Trận thắng có tiếng vang lớn trong toàn huyện của quân dân Hữu Hưng là trận thu hàng hai bốt Trung Văn và Ngọc Trục. Do phong trào kháng chiến lên mạnh, nên từ tháng 10/1949, các cán bộ chủ chốt của xã như Nguyễn Huy, Xuân Tề… lần lượt vào thuyết phục sĩ quan, binh lính hai bốt ủng hộ kháng chiến. Từ tháng 12/1948 đến tháng 4/1949, ta lấy được hai bốt này khá nhiều súng, đạn để trang bị cho du kích. Giữa tháng 4/1949, Huyện uỷ Liên Bắc chỉ đạo cán bộ Hữu Hưng” rút” hai bốt này để lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ huyện. Một kế hoạch “rút “được chuẩn bị rất chu đáo. Mặc dù ta đã nắm được binh lính nhưng để bảo đảm thắng lợi chắc chắn, một số lớn du kích các thôn được huy động và các phương án đề phòng bất trắc đã được vạch ra tỉ mỉ. Thắng lợi trọn vẹn đã về ta đúng như dự kiến ban đầu. Toàn bộ binh lính hai bốt với 31 khẩu súng và nhiều đạn dược được đưa ra an toàn, tập kết ở thôn Giao Quang, vượt qua nhiều làng địch hậu về khu căn cứ của huyện đúng ngày khai mạc Đại hội Đảng bộ huyện. Đây là trận binh vận thắng lợi lớn nhất của huyện Liên Bắc trong đó nhân dân thôn Giao Quang đóng góp nhiều công sức chuẩn bị nơi tập kết (khi vào bốt cũng như khi ra bốt) cho một số đông cán bộ du kích; chuẩn bị một số thuyền để đưa du kích qua sông, đón du kích, binh lính ra hàng và vũ khí thu được trở về. Ngày 10/5/1949, quân dân Hữu Hưng đã bẻ gãy trận càn của địch vào thôn Tây Mỗ. Địch huy động tới 500 quân, cả Pháp và nguỵ từ nhiều hướng càn vào làng. Du kích Hữu Hưng anh dũng chống trả. Mìn và lựu đạn của ta nổ suốt từ sáng đến chiều tối khiến giặc phải rút quân về với nhiều xác chết và bị thương. Trận thắng càn này cũng có tiếng vang trong huyện Liên Bắc. Tiếp theo ta còn trừng trị một số tên chỉ điểm lợi hại. Cũng trong tháng 5/1949, du kích Hữu Hưng phối hợp với du kích Đại La, Ngài Cầu, tập kích bốt Thanh Quang, giết và làm bị thương một số tên.
 
Tháng 5/1949, theo quyết định của Tỉnh uỷ Hà Đông, thị xã Hà Đông được thành lập lại gồmkhu vực nội thị và 4 xã trong đó có xã Cương Kiên, theo đó thôn Ngọc Trục cắt về xã này. Tuy là đơn vị hành chính mới, nhưng cán bộ du kích thôn và các thôn còn lại của Hữu Hưng vẫn duy trì mối quan hệ chiến đấu. Cũng trong tháng 5/1949 nhiều cán bộ du kích Hữu Hưng đã tham gia đại đội 36 - đơn vị bộ đội chủ lực đầu tiên của Liên Bắc.
 
Thắng lợi đợt phá tề và trận diệt bốt Đại Mỗ tạo khí thế phấn khởi trong nhân dân, cán bộ, du kích; thu hút đông đảo mọi người tham gia kháng chiến, nhưng lại nảy sinh trong cán bộ du kích tư tưởng chủ quan khinh địch, bộc lộ lực lượng. Mọi hoạt động đi lại gần như công khai khiến bọn chỉ điểm phát hiện, gây tổn thất lớn nhất là vụ lộ hầm ở thôn Giao Quang. Khoảng 4giờ sáng ngày 16 tháng 6 âm lịch tức ngày 12/7/1949, địch vây chặt làng, chúng bắt dân ra sân đình tập trung để kiểm mặt. Nhiều cán bộ du kích Giao Quang và một số thôn bạn bị bất ngờ, không có thẻ căn cước và tin vào hầm bí mật, nên cùng xuống hầm tập thể gần đó. Địch khống chế dân ở đình suốt ngày, không cho ai rời khỏi khu vực; đồng thời chúng cho quân lùng sục khắp làng, phát hiện ra hầm bí mật. Khoảng 9 giờ ngày 12/7, chúng tấn công hầm. Khi hầm thứ nhất lộ, các đồng chí Nguyễn Văn Ngữ, Đào Văn Túc từ dưới hầm nhảy lên ném lựu đạn rồi bắn vào đội hình địch. Từ bên ngoài, địch bố trí sẵn hoả lực nhả đạn, hai đồng chí anh dũng hy sinh, sau đó chúng lấy rơm chất đầy cửa hầm, hun đốt phát hiện các lỗ thông hơi. Chúng bới rộng lỗ thông hơi rồi thả lựu đạn cay xuống làm 19 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, trong đó có đồng chí Bạch Ngọc Thụ - Huyện uỷ viên, bí thư chi bộ xã; đồng chí Xuân Tề-thị đội trưởng.
 
Ở ngoài đình, địch tiếp tục doạ nạt, tra hỏi nhân dân, nhưng tuyệt nhiên không một ai khai báo cho chúng. Bất lực, chúng đành tự tổ chức tiếp tục lùng sục. Đến 15giờ ngày 12/7, chúng phát hiện ra hầm thứ hai, cách hầm thứ nhất khoảng 50m. Đây là một hầm chiến thuật ngắn, dễ thoát hiểm. Đồng chí Nguyễn Xuân Giữa và Nguyễn Xuân Láng nhảy lên khỏi hầm bị địch bắn hy sinh, đồng chí Nguyễn Hữu Quế lợi dụng lúc địch sơ hở đã thoát khỏi hầm, lặn qua hai ao lớn, nhưng do nước ao nông nên địch phát hiện, chúng bắt và tra tấn ông dã man, dùng dao rạch ngang mặt, rạch vào trán, đổ nước xà phòng vào mồm, vào mũi, hòng bắt ông chỉ hầm. Nhưng người cộng sản kiên cường ấy không khai báo; ông còn tuyên bố thẳng với địch trước đông đảo dân làng” Từ giờ phút này trở đi, tao câm, chúng mày đừng hòng tao khai báo”. Địch tiếp tục tra tấn ông cho đến lúc xử bắn. Tiếp tục lùng sục, đào bới, bắt được 6 đồng chí còn lại trong hầm thứ hai, gồm: Bà Nghiêm Thị Sáu-xã đội phó, Đào Văn Thược, Nguyễn Thị Sinh, ông Thắng (Tây Mỗ), ông Đồng (Vạn Phúc), ông Điển (Đơ Đồng). Chúng đưa 6 đồng chí về Hà Đông giam giữ, tra tấn. Riêng 2 đồng chí Quế và Sáu bị chúng bắn ở Phú Thứ. Trong 25 liệt sĩ có 21 liệt sĩ quê Giao Quang.
 
Do số cán bộ du kích và dân làng gần như hoàn toàn bị cô lập, nên cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra suốt từ sáng sớm đến chiều tối đã để lại cho Giao Quang và cả xã Đại Mỗ tổn thất lớn. Gần 30 cán bộ, đảng viên và du kích trung kiên vốn là lực lượng chủ đạo của phong trào kháng chiến một số đã hy sinh, một số bị địch bắt. Đau thương đến với từng nhà, từng dòng họ, từng lớp tuổi, cả thôn sống trong không khí bàng hoàng trĩu nặng và đau xót. Huyện uỷ Liên Bắc đã kịp thời cử cán bộ xuống thăm hỏi động viên tinh thần và ổn định tư tưởng nhân dân. Sau đó du kích Giao Quang đã bắt giải tên tề phản động giao cho cấp trên đưa ra vùng tự do để xét xử; sợ hãi trước hành động phạm tội của đồng bọn, một tên tay sai khác đã tự vẫn.
 
Sau vụ lộ hầm ở Giao Quang, được sự chỉ đạo của huyện uỷ, các cán bộ địa phương lăn lộn bám giữ cơ sở. Trên đà phát triển của phong trào Liên Bắc, sau hội nghị Thường vụ huyện uỷ (cuối tháng 7/1949) Hữu Hưng xây dựng làng chiến đấu, khu chiến đấu liên hoàn, tổ chức các trận diệt chỉ điểm, diệt một số tên tề phản động, tổ chức phá đường, đắp ụ, làm cổng trào, rải truyền đơn tuyên truyền đường lối kháng chiến v.v… Đội du kích tập trung của xã được củng cố đã tiến hành các đợt phục kích, quấy rối các đồn bốt địch.
 
Giữa tháng 11/1949, để tăng cường lực lượng lãnh đạo cho Hữu Hưng, tích cực đối phó với âm mưu bình định càn quét của địch, Huyện uỷ Liên Bắc cử đồng chí Nguyễn Văn Kiển, huyện uỷ viên về làm bí thư xã.
 
Đầu năm 1950, địch điều thêm quân chủ lực ở một số chiến trường về các vùng chúng tạm chiếm, nhằm kiểm soát cho được vùng đồng bằng đông dân cư giàu có, giành lại thế chủ động đã mất. Ở địa phương, chúng lập thêm bốt hương dũng ở xóm Đình Đại Mỗ, cùng với bốt Mỗ (do lính địa phương quân nắm giữ) cùng hệ thống đồn bốt ở các làng xung quanh tạo thế kìm kẹp đối với phong trào kháng chiến trong xã. Cùng với các hoạt động quân sự, địch ra sức tuyên truyền, lừa phỉnh, chia rẽ gây mất đoàn kết giữa một bộ phận cán bộ và nhân dân các thôn với nhau. Trước những đợt khủng bố của địch, một bộ phận quần chúng không khỏi hoang mang dao động, khá nhiều người ra vùng tự do sinh sống; đa số cán bộ đảng viên bị bật khỏi cơ sở. Trước tình hình đó, chi bộ Đảng xã tổ chức hội nghị ra mắt công khai tại Lương Xá (Ứng Hoà, Hà Đông). Nhiều cán bộ đảng viên và khá đông quần chúng ở Đại Mỗ, trong đó có nhiều thân hào, thân sĩ đến dự. Ra công khai trước toàn dân, hội nghị đã ổn định được tư tưởng quần chúng và quyết định đưa cán bộ đảng viên về bám giữ cơ sở. Lúc đầu ta đưa cốt cán, sau đưa quần chúng trung kiên tạo cơ sở cho dân về đông. Ta lấy chính trị (xây dựng cơ sở) tuyên truyền vận động là chính. Qua Tết âm lịch 1950, cơ sở được phục hồi, đảng viên được kết nạp thêm, các thôn đều có tổ Đảng. Khối đoàn kết giữa các thôn được củng cố. Để có quỹ hoạt động, ta vận động giới bô lão cả xã ủng hộ chính quyền hơn hai mẫu ruộng, giao cho các gia đình cơ sở và du kích các thôn Giao Quang, An Thái cày cấy nộp sản phẩm. Sự phục hồi cơ sở lần này đã tạo điều kiện cho quân dân Hữu Hưng đẩy mạnh cao trào đấu tranh vũ trang, thực hiện chỉ thị của Tỉnh uỷ Hà Đông” Phát triển chiến tranh du kích nhằm biến vùng tạm chiếm của địch thành khu chiến đấu liên hoàn, tiến tới là khu tự do của ta trong lòng địch”. Thực hiện chủ trương” quân sự hoá toàn dân” của Huyện uỷ Liên Bắc, lực lượng du kích tập trung xã được tăng cường cả về quân số và trang bị. Mở đầu cao trào đấu tranh vũ trang là trận Biển Sắt với sự phối hợp tác chiến giữa du kích tập trung xã và đại đội 36 (bộ đội địa phương huyện) nhằm tiêu diệt bọn lính Pháp và lính nguỵ đi tuần từ bốt Mỗ vào Thanh Quang. Trận đánh diễn ra lúc 9 giờ sáng. Hơn 20 quả mìn được chôn trên đường 72 trong phạm vi 15m tại Biển Sắt - nơi có cây cối um tùm 2 ven đường. Khi địch đi tuần về lọt vào trận địa, mìn nổ, chúng hoảng sợ chạy tán loạn vào nhà dân xung quanh ẩn náu. Tuy không tiêu hao sinh lực địch nhưng trận đánh đã “gây thanh thế” khiến chúng không dám hung hăng sục sạo như trước. Sau đó một tháng (tháng 4/1950) du kích Hữu Hưng tổ chức tiêu diệt đoàn xe cam nhông của địch tại Cầu Ngà (trên đường 70 Mỗ đi Nhổn). Trận đánh đã để lại những bài học kinh nghiệm trong việc phục kích xe giữa ban ngày. Tiếp đó, tháng 6/1950 du kích xã phối hợp với bộ đội huyện phục kích tại Cầu Triền (trên đường 70) nhằm bắt tên quan hai Pháp và tên trùm Quốc dân đảng ở vùng Mỗ. Trận đánh được chuẩn bị khá chu đáo nhưng hai tên đó không về Tây Mỗ nên ta chỉ bắt được tên lái xe, thu một súng và một xe gíp. Hai tháng sau (tháng 8/1950) cũng tại Cầu Triền du kích xã và bộ đội huyện tổ chức trận “bạch binh” nhằm tiêu diệt bọn lính hương dũng đi tuần từ bốt đình Đại Mỗ lên Cầu Ngà. 5 quả mìn được đặt gần cầu trong phạm vi 10m. Du kích và bộ đội mai phục quanh chùa Cả và miếu ở hai ven đường. Một cánh quân khác án ngữ cuối xóm Đình nhằm chặn quân tiếp viện từ bốt Mỗ lên. 7 giờ sáng, gần 20 lính lê dưỡng từ bốt xóm Đình (Đại Mỗ) lên lọt vào trận địa phục kích. Mìn nổ từ hai phía, địch hoảng sợ co cụm vào giữa, từ hai bên chùa và miếu, du kích cùng bộ đội đồng loạt ném lựu đạn. Một tên chết tại chỗ, 5 tên bị thương cùng đồng bọn chạy ngược về phía bốt Mỗ. 1 tên bị bắt sống. Ta thu 1 súng trường. Trận bạch binh cầu Triền có tiếng vang lớn trong huyện Liên Bắc, gây không khí phấn khởi trong cán bộ và nhân dân. Trong tháng 10/1950, du kích xã đã phục bắt và trừng trị tên Lý Thìn giữa ban ngày, gần rìa xóm Ngang (Đại Mỗ) đã làm cho bọn tề nguỵ gian ác hoảng sợ, không tên nào dám nhận chức lý trưởng xã Đại Mỗ. Phía ta phải bố trí một uỷ nhiệm thôn đến gặp một nhân viên hội tề giải thích và động viên ông ta ra làm lý trưởng để tạo điều kiện cho cán bộ du kích ta hoạt động dễ dàng. Cũng từ sau khi diệt Lý Thìn, ta điều khiển dễ dàng tên sếp bốt đình Đại Mỗ và hạn chế sự sục sạo của lính bốt. Cùng với những trận đánh giữa ban ngày, việc trừng trị những tên chỉ điểm lợi hại cũng được chú ý. Chỉ riêng du kích thôn Giao Quang đã trừng trị 3 tên chỉ điểm nguy hiểm. Đối với bộ máy tề, một mặt ta vẫn đưa người vào nắm số hội tề tiến bộ, mặt khác với những tên tề “hai mặt” ta nhiều lần cảnh cáo.
 
Cùng với đấu tranh vũ trang, du kích và nhân dân trong xã còn tham gia rào làng kháng chiến, tổ chức báo động liên hoàn, báo động cả ban ngày, tiến hành quấy rối các đồn bốt, tổ chức phá đường đắp ụ, ngăn cản giao thông. Nhiều cuộc mít tinh, diễn thuyết về chuẩn bị tổng phản công được tổ chức rầm rộ. Áp phích, khẩu hiệu về tổng phản công được dán và trương lên tại nhiều địa điểm trong xã. Các tầng lớp nhân dân còn hăng hái nộp thuế, mua công phiếu kháng chiến, góp gạo vào “quỹ khao quân” cùng nhiều hoạt động ủng hộ kháng chiến khác.
 
Nhìn chung, năm 1950, trong hoàn cảnh rất khó khăn, quân và dân Hữu Hưng vẫn duy trì và phát triển chiến tranh du kích thành cao trào, trên cơ sở đó đẩy mạnh các hoạt động kháng chiến khác. Đó là một thành tích thể hiện sự cố gắng rất lớn của chi bộ Đảng, chính quyền và nhân dân trong xã. Tuy nhiên qua đó cũng bộc lộ những sơ hở, những nhược điểm của Hữu Hưng là quá chú trọng đấu tranh quân sự khi điều kiện thực tế cho các hoạt động đó không còn nữa. Khi giành được một số thắng lợi ban đầu, phần đông cán bộ du kích “say sưa” với hoạt động quân sự ít chú ý tới việc phát triển lực lượng chính trị, bảo vệ cơ sở. Việc vận dụng các nghị quyết về chiến tranh du kích về phối hợp với các chiến trường chính có phần máy móc, không chú ý tới thực tế địa phương, do vậy không tránh khỏi “ẩu tả”. Ngay việc phục kích lính hương dũng ở bốt đình Đại Mỗ, nhiều đồng chí cho rằng không cần thiết vì ta đã nắm được viên sếp bốt và số đông binh lính đều là người địa phương. Phần đông cán bộ, du kích chưa thấy hết được tình hình phức tạp của địa phương là nơi nằm sâu trong vùng địch kiểm soát, gần Thủ đô Hà Nội mà địch quyết bình định bằng mọi giá nên thiếu linh hoạt trong đấu tranh, nặng về quân sự, ít chú ý tới chính trị. Đương nhiên, sự thiếu linh hoạt đó của Hữu Hưng nằm trong bối cảnh chung của phong trào toàn huyện Liên Bắc lúc đó. Phương thức hoạt động của số đông cán bộ du kích là chủ quanm khinh địch, lộ liễu, nguyên tắc hầm bí mật không được bảo đảm, do vậy dễ bị chỉ điểm phát hiện, khi lộ hầm thì tự sát ẩu, làm mất đi số đông cán bộ đảng viên và du kích trung kiên. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho phong trào kháng chiến địa phương sau khi lên tới đỉnh cao vào năm 1950 bị địch khủng bố mạnh đã lắng xuống.
 
Phong trào chiến tranh du kích, phá tề trừ gian và những hoạt động kháng chiến khác trong 3 năm (1948-1949-1950) của quân và dân Hữu Hưng thực chất là những phong trào cách mạng sôi nổi thu hút sự tham gia với ý thức sâu sắc và lòng nhiệt tình của đông đảo nhân dân trong xã thông qua các đoàn thể quần chúng như: Mặt trận liên Việt, Hội phụ nữ cứu quốc, Nông hội v.v… Công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền và các đoàn thể quần chúng luôn được coi trọng trong suốt quá trình kháng chiến. Được rèn luyện, thử thách trong cuộc đấu tranh ác liệt với kẻ thù, nhiều thanh niên công tác trong các ngành các giới được kết nạp vào Đảng. Thử thách của người đảng viên lúc này là sẵn sàng hy sinh vì dân vì nước, mưu trí sáng tạo trong việc tổ chức quần chúng đấu tranh. Nhìn chung việc phát triển Đảng bảo đảm chất lượng. Nhờ đó mà các thôn có đội ngũ cán bộ đảng viên là nòng cốt cho phong trào kháng chiến trong xã. Lúc cao nhất chi bộ Hữu Hưng có 40 đảng viên.
 
Trong quá trình phát triển của phong trào kháng chiến địa phương, đã xuất hiện nhiều tấm gương về tinh thần hy sinh chiến đấu của cán bộ đảng viên, lòng kiên trung với Đảng, nuôi giấu, bảo vệ cán bộ của quần chúng cách mạng. Quá trình phục hồi cơ sở là quá trình cán bộ đảng viên không quản khó khăn, đi bộ 2-3 ngày liền, từ vùng tự do vượt qua những trạm kiểm soát gắt gao của địch để trở về làng. Tiếp đó là những ngày đêm nằm hầm bí mật ngập nước, phơi mình dưới nắng hè gay gắt ở ngoài đồng, nằm trên gác bếp, gác chuồng trâu hàng tháng trời. Tiêu biểu nhất là đồng chí Xuân Tề (thôn Giao Quang) - Anh hùng dân quân Liên khu III, đồng chí là người gây dựng đội du kích tập trung hạt nhân của phong trào chiến tranh du kích xã, là người chỉ huy các trận diệt bốt Đại Mỗ, thu hàng bốt Ngọc Trục và nhiều trận diệt tề trừ gian khác. Đồng chí Nguyễn Xuân Quế (Giao Quang), xã đội phó, tham dự nhiều trận đánh, bị địch bắt tra tấn rất dã man (dùng dao đâm ngang dọc vào mặt vào trán, đổ nước ớt, nước xà phòng vào miệng nhưng không khai báo một lời nào với địch. Địch tra hỏi mãi, cuối cùng đồng chí tuyên bố với địch trước đông đảo nhân dân “từ giờ trở đi tao im”. Địch tiếp tục tra tấn nhưng không lung lạc được người đảng viên cộng sản ngoan cường ấy. Sau đó địch bắn đồng chí tại làng. Đặc biệt ở thôn Giao Quang có đồng chí Nguyễn Bá Thái, chỉ huy một tiểu đội lão du kích gồm một số cụ già và trung niên. Tuy đã gần 60 tuổi, nhưng đồng chí vẫn lăn lộn với phong trào từ khi địch lấn chiếm, vừa đào hầm nuôi giấu cán bộ, vừa tham gia đánh địch, đi cắt dây điện thoại, đặt mìn trên đường giao thông… Chính đồng chí đã thi hành bản án tên chỉ điểm hầm ở thôn Giao Quang nhưng sau đó bị tên Lý Thân dẫn lính vào bắn chết khi đồng chí đang ốm ở trong nhà. Đồng chí Nguyễn Xuân Đối (thôn An Thái) bị lộ hầm ở thôn Giao Quang do chỉ điểm, đã chờ địch tới gần rồi bất thần nhẩy ra đâm một tên lính Tây bị thương và anh dũng hy sinh. Bà Nguyễn Thị Nà ở Giao Quang tuổi đã trên 60 nhưng vẫn hăng hái làm giao thông liên lạc, canh gác, đóng mở cổng làng, nhà rất nghèo, nhưng vẫn nuôi cán bộ. Trong các gia đình cơ sở, trước hết phải biểu dương toàn thể nhân dân thôn Giao Quang. Cả thôn có hơn 40 nóc nhà nhưng nhà nào cũng đào hầm nuôi cán bộ, cả thôn tham gia kháng chiến. Nhân dân hăng hái đi đầu trong mọi phong trào của xã, góp công sức lớn và các trận diệt bốt Đại Mỗ, rút hàng bốt Trung Văn, Ngọc Trục. Sau vụ tổn thất lớn (tháng 7/1949), nhân dân toàn thôn vẫn một lòng hướng về kháng chiến. Các gia đình bà Quảng ở Ngọc Trục, chị Nguyễn Thị Trang ở Giao Quang, sư thầy Đàm Nhâm ở chùa Ngọc Trục, bà Toàn ở xóm đình Đại Mỗ là cơ sở đào hầm nuôi giấu cán bộ, và là trạm liên lạc, thu thập tin tức của ta suốt những năm kháng chiến. Trong chiến đấu, tình đoàn kết quân dân, sự gắn bó mật thiết giữa dân với Đảng, với cán bộ luôn biểu hiện sáng ngời, địch càng khủng bố ác liệt, mối tình ấy càng khăng khít bền chặt. Sự che chở hết lòng của các gia đình cơ sở và quần chúng kháng chiến là điều kiện để cán bộ du kích yên tâm hăng hái hoạt động.
 
III. CHUYỂN HƯỚNG ĐẤU TRANH GIỮ VỮNG PHONG TRÀO, ĐƯA CUỘC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI (1951-1954)
 
Sau thất bại lớn ở chiến dịch Biên giới Việt-Trung, giặc Pháp co về củng cố vùng tạm chiếm ở đồng bằng và Hà Nội. Tại Hữu Hưng, hai tháng cuối năm 1950, địch đưa quân chủ lực về tăng cường khủng bố, lùng sục, lính địa phương quân tăng thêm. Hệ thống đồn bốt được củng cố và trang bị thêm. Đi đôi với việc tăng cường lực lượng quân sự, địch tiếp tục củng cố bộ máy tề, kéo dài chiến tranh. Đầu năm 1951, chúng tiến hành cái gọi là “tổng tuyển cử” nhằm chọn lọc bộ máy tề gồm những tên tay sai trung thành đắc lực nhất. Cùng với đó, địch còn dùng mọi biện pháp để lôi kéo tầng lớp nhân dân tham gia các tổ chức, đảng phái phản động như “Hội nhà nông Bắc Việt”, “Phụ nữ áo nâu”, “Thanh niên áo trắng” để bí mật gài chỉ điểm. Ngoài việc dùng chỉ điểm, địch còn dùng những người đầu thú để chống phá kháng chiến, lùng sục, vây quét theo chiến thuật liên hoàn, làm cho cán bộ ta không còn đất đứng chân. Mặt khác chúng tiếp tục tung tin xuyên tạc gây mâu thuẫn, nghi ngờ giữa cán bộ, du kích và nhân dân các thôn với nhau. Về kinh tế, văn hoá, địch dùng hàng viện trợ Mỹ về bán rẻ cho nhân dân làm sống lại các hủ tục trong hội hè, cưới xin, ma chay, nhằm thực hiện âm mưu “rút ruột “phong trào kháng chiến.
 
Trong tình hình đó, phong trào kháng chiến gặp nhiều khó khăn, tháng 2/1951, huyện uỷ Liên Bắc cử đồng chí Nguyễn Văn Đê (Thơ), huyện uỷ viên, uỷ viên Uỷ ban kháng chiến huyện về làm bí thư chi bộ để khôi phục phong trào ở Hữu Hưng. Để biểu thị quyết tâm chấn chỉnh và phục hồi phong trào kháng chiến xã, đồng chí Thơ đề nghị huyện uỷ được mang tên Chấn Hưng (chấn chỉnh phong trào kháng chiến xã Hữu Hưng).
 
Sau khi trở về xã trong tình hình lực lượng cán bộ đảng viên mất đoàn kết, chưa có phương hướng hoạt động cụ thể, việc đầu tiên của đồng chí Chấn Hưng là bắt liên lạc, nắm quần chúng trung kiên và các gia đình cơ sở ở thôn xóm. Địch khủng bố liên tục, lực lượng cán bộ đảng viên bị tổn thất nhưng lòng dân vẫn hướng về kháng chiến. Mỗi thôn vẫn có hàng chục quần chúng trung kiên và gia đình cơ sở, sẵn sàng chờ đón cán bộ cấp trên về phục hồi phong trào. Vì vậy, chỉ một thời gian ngắn các cơ sở kháng chiến lần lượt được nhen nhóm. Lòng trung thành và nhiệt tình với kháng chiến của quần chúng đã có sức cảm hoá đầy thuyết phục đối với cán bộ đảng viên, giúp họ đoàn kết, thống nhất và chi bộ được củng cố tiếp tục hoạt động. Lúc này, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ Hà Đông và huyện uỷ Liên Bắc, ta chuyển hướng hoạt động, lấy chính trị là chủ yếu, củng cố cơ sở theo phương thức nắm quần chúng theo tổ, đào tạo cán bộ hợp pháp, đưa quần chúng ra đấu tranh công khai. Trước hết là vận động nhân dân không nộp các thứ thuế vô lý do địch bày đặt như thuế nhà ngói, thuế đầu trâu, không tham gia tổ chức “nghiệp đoàn nhà nông Bắc Việt”. Ở Đại Mỗ, một số gia đình đã nộp tiền vào “nghiệp đoàn “nhưng ta vận động đòi lại. Kết quả toàn xã Hữu Hưng, địch không lập được tổ chức này. Ta còn phá tổ chức “Thanh niên quần xanh”, “Phụ nữ áo trắng”. Một trọng tâm hoạt động khác của ta lúc này là tuyên truyền tin chiến thắng, vận động thanh niên trốn đi lính, vận động binh lính đào ngũ.
 
Nhìn chung cho tới tháng 6/1951 phong trào của Hữu Hưng có chuyển biến đã được chọn làm cơ sở, bàn đạp của Huyện uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện. Tuy nhiên, sau trận tiêu diệt bọn lính hương dũng ở cầu Ngái không thành (do có nội phản) địch chú ý tới Hữu Hưng. Tháng 7/1951, địch từ ba phía: Hà Đông, Thanh Quang và Ngọc Mạch càn vào thôn Tây Mỗ, chúng phát hiện ra căm hầm “Chùa Hương” ở xóm Phượng. Trong hầm có 3 người: 1 bội đội, 1 cán bộ xã và đồng chí Chánh văn phòng huyện uỷ kiêm Chánh văn phòng uỷ ban. Các cán bộ ta kịp huỷ tài liệu, dùng lựu đạn chiến đấu. Hai đồng chí hy sinh, đồng chí Chánh văn phòng lên nói chuyện với sếp tây bị lính nguỵ bắn chết. Địch lục soát căn hầm bắt được 2 con dấu của huyện uỷ và uỷ ban huyện. Trong tình hình đó, hiện tượng nằm im hoặc chạy dài là không tránh khỏi. Ở Tây Mỗ sau khi 2 đảng viên cuối cùng xin ra vùng tự do rồi trở về làng và bị bắt (cuối tháng 7/1951) đã không còn đảng viên. Tiếp đó ngày 2 tháng 7 năm Đinh Mão địch vây thôn An Thái. Một du kích không chịu nổi tra tấn đã chỉ hầm bí mật cho địch. Đồng chí Nguyễn Xuân Thiềng, chi uỷ viên, chủ tịch xã ở trong hầm thấy địch đến gần đã ném lựu đạn nhưng không nổ. Địch xả súng vào hầm, đồng chí đã hy sinh. Cùng ngày, toàn bộ số đảng viên của thôn An Thái bị bắt. Từ trận vây bắt lớn này, địch lại bắt thêm gần 20 cán bộ ở các thôn khác.
 
Các cuộc vây quét trong tháng 8/1951 của địch đã gây tổn thất nặng nề cho Hữu Hưng. Sau đợt này một số cán bộ, đảng viên chạy ra vùng tự do, số khác nằm im không hoạt động.
 
Tình hình rất khó khăn, tuy nhiên phong trào có thể tổn thất, đất có thể tạm thời mất nhưng lòng dân và cơ sở không bao giờ mất. Số đông quần chúng trung kiên và gia đình cơ sở vẫn tin tưởng và động viên đồng chí Chấn Hưng ra vùng tự do xin chỉ thị của Huyện uỷ. Vượt qua những vòng kiểm soát gắt gao của địch, đồng chí đã ra căn cứ của huyện và gặp đồng chí Bí thư huyện uỷ. Nửa tháng sau, đồng chí cùng hai cán bộ xã (chủ tịch xã và một liên lạc) và một số cán bộ huyện trở về xã. Nhưng đến Trại Vải (xã Vân Côn), đoàn cán bộ bị phục kích. Một số bị địch bắt (trong đó có đồng chí chủ tịch xã). Đồng chí Chấn Hưng được chỉ định giữ chức chủ tịch xã. Về tới xã, các cán bộ ta lại tiếp tục dựa vào quần chúng trung kiên và gia đình cơ sở còn lại ở các thôn xóm để phục hồi cơ sở, đào tạo cán bộ hợp pháp và vận động quần chúng đấu tranh. Địch khủng bố quyết liệt, mọi hoạt động của ta lúc này phải nhằm vào việc giữ vững cơ sở, tránh bộc lộ lực lượng. Được sự che chở và giúp đỡ của nhân dân, các cán bộ xã vẫn sống an toàn trong những căn hầm bí mật được xây dựng hết sức kín đáo và thuận tiện ngay trong vòng lùng sục gắt gao của địch. Phong trào lại có điều kiện đi lên và một lần nữa Hữu Hưng lại được chọn làm nơi đặt cơ quan Huyện uỷ. Tuy nhiên, những tháng cuối năm 1951 địch càng tăng cường vây quét nhằm bắt hết số cán bộ du kích còn lại trong xã gây thêm nhiều tổn thất cho Hữu Hưng. Hầu hết cán bộ chủ chốt còn lại của xã và các thôn bị bắt vào thời kỳ này. Tổn thất lớn nhất là vụ lộ hầm ở Đống Miếu (cạnh đường 70) do 2 quần chúng không chịu nổi đòn tra tấn của giặc đã khai. Căn hầm đó là văn phòng huyện uỷ. Trong hầm có đồng chí huyện uỷ viên, chánh văn phòng huyện uỷ và một liên lạc của huyện. Khi bị lộ, các đồng chí ta đã huỷ tài liệu ném lựu đạn về phía địch rồi hy sinh. Trước tình hình đó, huyện uỷ tăng cường thêm một số đồng chí đảng viên cho Hữu Hưng(1). Chi bộ được lập lại, đồng chí Chấn Hưng tiếp tục làm bí thư. Sau một thời gian, Ban cán sự xã được thành lập, gồm một số cán bộ hợp pháp của các thôn(2). Nhiệm vụ của Ban cán sự là tuyên truyền tập hợp quần chúng, nhằm vào các gia đình cơ sở, các gia đình liệt sĩ, các cán bộ cũ để đưa vào các tổ chức quần chúng bí mật, làm cơ sở để phát động đấu tranh. Cho tới tháng 12/1952, phong trào Hữu Hưng đi vào chiều sâu với nội dung là củng cố tổ chức, nắm các gia đình cơ sở đào tạo cán bộ hợp pháp. Hữu Hưng vẫn có cơ quan đầu não của huyện đóng, là bàn đạp cho các cán bộ các xã Thọ Nam, Phương Sơn, Mã Lan, Sơn Trung trở về cơ sở. Đồng chí Bí thư huyện uỷ vẫn an toàn.
Sang năm 1953, huyện Liên Bắc tách ra làm hai miền, địch đánh ta nhiều mặt, bằng nhiều thủ đoạn. Tình hình cực kỳ khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, chi bộ có 4 đảng viên thì 1 đồng chí xin nghỉ công tác, 1 bị ốm nặng và 1 đi học. Chi bộ Hữu Hưng không tồn tại. Nhưng đồng chí Chấn Hưng vẫn cùng Ban cán sự xã giữ vững cơ sở.
 
Sang năm 1954, khi bắt đầu mở chiến dịch Điện Biên Phủ, ta đẩy mạnh tuyên truyền tin chiến thắng, vận động binh lính đào ngũ và mang vũ khí về với kháng chiến. Tháng 4/1954, huyện uỷ điều chị tâm cán bộ phụ nữ huyện về làm chủ tịch xã Hữu Hưng thay đồng chí Chấn Hưng đi tăng cường cho vùng Nam Hoài Đức. Trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ta đẩy mạnh địch vận, nhân dân thôn Giao Quang đã đấu tranh đòi bộ máy tề ở thôn giữ lại số tiền thuế. Số tiền này sau được ta dùng để mua máy bơm phục vụ sản xuất. Chiến dịch Điện Biên Phủ 7/5/1954 toàn thắng, Chính phủ nước Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ thừa nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước ta. Theo đó từ ngày 27/7/1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu được thực hiện. Các thôn xóm đều làm cổng chào, cắm cờ, trương khẩu hiệu, rước ảnh Bác Hồ, tổ chức mít tinh mừng chiến thắng.
 
Tám năm kháng chiến lâu dài đầy gian khổ của quân và dân Hữu Hưng kết thúc. Với nhân dân có đội ngũ cán bộ, đảng viên, du kích kiên trung bất khuất, một lòng một dạ tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, tin ở kháng chiến nhất định thắng lợi, đã bám lấy dân, nắm được dân và vì dân chiến đấu. Chi bộ Đảng quyết giữ vững phong trào cách mạng, kiên trì kháng chiến trong lòng địch, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới.
 
CHƯƠNG III
ĐẠI MỖ TRONG THỜI KỲ XÂY DỰNG MIỀN BẮC XHCN
VÀ ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
(1954 - 1975)
 
I. THỰC HIỆN KHÔI PHỤC, PHÁT TRIỂN KINH TẾ, BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1954-1965)
 
1. Khôi phục và phát triển kinh tế văn hoá (1954-1957)
 
Cuối năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam còn bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai xâm lược, nhân dân ta còn tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến tới thống nhất nước nhà.
 
Ngày 10/10/1954, Hà Nội rợp bóng cờ bay. Cùng với Thủ đô, quê hương Hữu Hưng (Đại Mỗ) cũng sạch bóng quân thù. Từ đây, cán bộ và nhân dân Đại Mỗ phấn khởi bắt tay thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới: nhanh chóng thực hiện ổn định tình hình, khôi phục và phát triển kinh tế-văn hoá.
 
Thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, việc xây dựng cuộc sống mới ở quê hương những năm đầu sau chiến tranh gặp rất nhiều khó khăn. Địch rút đi để lại cảnh xóm làng xác xơ, đồng ruộng bỏ hoang. Các khu đồng như: Giao Quang, đồng Hới, đồng Giàu… phủ đầy cỏ dại, trâu bò cày kéo thiếu thốn. Sản xuất thủ công nghiệp bị đình đốn. Trước khi rút quân, địch còn cài mìn phá đình Đại Mỗ, một di tích văn hoá của quê hương làm hư hại cả một số nhà cửa xung quanh. Là xã nằm sâu trong vùng tạm chiếm, các tệ nạn xã hội của chế độ cũ còn rơi rớt lại khá nhiều. Trình độ học vấn của nhân dân rất thấp, đời sống vật chất rất khó khăn, nhiều gia đình thiếu đói, mùa đông thiếu quần áo ấm. Lợi dụng khó khăn về kinh tế, thực hiện âm mưu của địch, bọn phản động còn tuyên truyền xuyên tạc các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, dụ dỗ và cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam. Lúc đầu một số gia đình trong xã nhẹ dạ, cả tin, mắc mưu địch đã lén lút đi Nam.
 
Được sự giúp đỡ của huyện, chính quyền xã sử dụng nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn âm mưu thâm độc của địch. Xã chọn những người có uy tín, nhanh chóng nắm bắt tình hình, kết hợp với phương châm “lấy dân làm tai mắt”, đã kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong tư tưởng. Ngoài việc tổ chức cho nhân dân học tập các chính sách của Đảng ở vùng mới giải phóng, chính quyền còn cử cán bộ đến từng nhà giáo dục thuyết phục những người còn mơ hồ. Sau khi được học tập, nhiều gia đình đã thấy được âm mưu của địch và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta. Kết quả đa số yên tâm ở lại quê hương, hạn chế đến mức thấp nhất số người di cư.
 
Tháng 11/1954, Ban cán sự xã thành lập gồm một số đồng chí cán bộ đảng viên cũ còn lại ở địa phương và từ kháng chiến trở về. Được huyện tăng cường cán bộ, chính quyền xã được củng cố. Sau đó đã cử ra các uỷ nhiệm thôn, chịu trách nhiệm trước chính quyền để giải quyết các công việc thuộc nội bộ thôn, xóm. Các tổ chức quần chúng: thanh niên, phụ nữ được kiện toàn. Ban công an, Ban xã đội được thành lập. Lực lượng dân quân du kích được củng cố trở thành chỗ dựa vững chắc của chính quyền.
 
Phát huy khí thế chiến thắng, chính quyền xã tổ chức động viên nhân dân đẩy mạnh khai hoang phục hoá, phục hồi sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, ổn định đời sống nhân dân. Chính quyền tiến hành chia ngay số ruộng đất công (phe giáp, tư văn, bản binh v.v…) cho một số gia đình không có ruộng. Mặc dù năng lực còn hạn chế, nhưng cán bộ xã đoàn kết, xông xáo nhiệt tình đối với công việc chung. Cuối năm 1954 hạn hán nặng, nhân dân lăn lộn sớm khuya tát nước vào đồng, cán bộ chủ động lo toan, đi các nơi thuê máy bơm nước cho dân càu cấy. Để góp phần chống đói, Ban cán sự và chính quyền xã phát động toàn dân đẩy mạnh phong trào trồng rau màu ngắn ngày, tận dụng đất đai cấy hết diện tích. Sau một năm phấn đấu, đến cuối năm 1955, hàng chục mẫu ruộng hoang đã trả lại màu xanh của lúa, khoai, rau, đậu. Tháng 9/1955, mặc dù ảnh hưởng của bão gây ra làm thiệt hại một số nhà cửa, hoa màu, nhưng nhân dân trong xã vẫn đạt vụ mùa thắng lợi, đời sống có phần ổn định.
 
Đầu năm 1956, thực hiện chủ trương của Đảng, Đại Mỗ tiến hành cải cách ruộng đất. Đội cải cách về đã đi sâu vào tầng lớp bần, cố nông tiến hành “bắt rễ, sâu chuỗi”, tổ chức cho nhân dân học tập chính sách cải cách ruộng đất của Đảng, phát động nông dân vùng lên đánh đổ giai cấp địa chủ, phong kiến. Được học tập, bà con nông dân hăng hái vạch trần tội ác và thủ đoạn bóc lột của bọn địa chủ. Những tên cường hào gian ác đã bị trừng trị. Trước sức mạnh của quần chúng, bọn địa chủ không dám lộ mặt phản ứng chỉ tìm cách phân tán ruộng đất, tài sản, giấu bớt của cải. Qua 6 tháng triển khai, cải cách ruộng đất căn bản hoàn thành. Thắng lợi đó đã đánh đổ uy thế chính trị và kinh tế của giai cấp địa chủ. Hàng chục mẫu ruộng cùng trâu bò, tài sản thu được của địa chủ đều được chia cho các hộ bần cố nông. Ngày cắm thẻ nhận ruộng mang đến niềm vui lớn cho bà con nông dân Đại Mỗ. Khẩu hiệu “ruộng đất về tay dân cày “đã được thực hiện. Nhân dân Đại Mỗ đã được giải phóng trở thành người làm chủ ruộng đồng.
 
Trong cải cách ruộng đất, đội ngũ cán bộ xã được trưởng thành. Một số cốt cán và quần chúng tích cực, hăng hái xuất thân từ bần cố nông được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Tháng 2/1956 chi bộ xã Hữu Hưng được thành lập lại với 16 đảng viên, trong đó Đại Mỗ có 6 đảng viên. 5 đồng chí được bầu vào Ban chi uỷ, đồng chí Nguyễn Thị Khuyên được bầu làm bí thư chi bộ. Chính quyền xã do đồng chí Trần Khắc Năng làm chủ tịch.
 
Thắng lợi của cải cách ruộng đất là cơ bản, song cũng như nhiều nơi khác, ở Đại Mỗ cũng phạm những sai lầm, khuyết điểm. Khi chỉ đạo, hiện tượng gò ép trong quy định thành phần gây rra nhiều trường hợp quy sai. Đánh giá tình hình và nhận định về uy thế của địch không đúng dẫn đến đánh tràn lan. Nhiều cán bộ, đảng viên, quần chúng tốt bị xử lý oan; diện tích, sản lượng bị kích lên cao. Những sai lầm khuyết điểm làm cho quan hệ tình cảm bị sứt mẻ. Lòng tin của nhân dân với Đảng bị giảm sút. Tuy nhiên sau khi được học tập về chủ trương, chính sách của Đảng về công tác sửa sai, đại bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân vẫn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ kinh yêu. Được rèn luyện thử thách trong kháng chiến chống Pháp, trung thành với lợi ích của tổ quốc, của nhân dân, cán bộ, đảng viên bị xử lý oan đã gạt mọi thành kiến cá nhân, sẵn sàng tham gia công tác khi Đảng và nhân dân yêu cầu. Một số đồng chí sau khi được minh oan lại tham gia tích cực vào đội sửa sai; có đồng chí lại giữ cương vị chủ chốt.
 
Công tác sửa sai được chi bộ Đảng, chính quyền địa phương phối hợp chặt chẽ với đội sửa sai thi hành nghiêm túc, khẩn trương. Những gia đình bị quy sai đều được hạ thành phần. Diện tích, sản lượng đều được điều chỉnh hợp lý. Mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân được giải quyết thoả đáng. Đầu năm 1957, công tác sửa sai đã hoàn thành gây lại niềm tin trong nhân dân. Tình nghĩa xóm làng trở lại bình thường. Tổ chức Nông hội phát triển thu hút hàng nghìn hội viên. An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
 
Nhằm giúp đỡ nhau trong sản xuất, sau ngày quê hương giải phóng, được sự giúp đỡ, hướng dẫn của cấp trên, thôn Giao Quang đã xây dựng 4 tổ đổi công đầu tiên của xã. Là hình thức tập thể sơ khai, đổi công lúc đầu theo từng việc, từng vụ trên cơ sở liên xóm, liên gia. Mọi người giúp đỡ nhau của cải, giống, vốn và sức kéo để vượt qua khó khăn. Việc làm có lợi lôi cuốn nhiều người. Từ Giao Quang, phong trào ngày càng lan rộng ra các thôn xóm. Thực tế phong trào đã có những bài học hay, kinh nghiệm tốt. Bằng kết quả ban đầu, Giao Quang đã được đi báo cáo ở một số nơi trong tỉnh. Qua cải cách ruộng đất, các tổ đổi công ngày càng mở rộng và củng cố. Đến năm 1957, tất cả các thôn xóm ở Đại Mỗ đều có tổ đổi công. Sau khi nông dân được chia ruộng đất càng phấn khởi ra sức phục hồi sản xuất nông nghiệp. Hệ thống mương máng nhỏ nội đồng bắt đầu được triển khai. Nông dân dành nhiều công sức đào mương dẫn nước từ Cầu Đôi về khu đồng gốc đa dài hơn 300m. Mọi cố gắng của nhân dân Đại Mỗ đã đưa diện tích gieo trồng tăng lên. Cuối năm 1957, gần 100% diện tích vụ mùa được cày cấy. Lúa chiêm cũng đạt từ 30-40% diện tích. Cùng với nông nghiệp, sản xuất thủ công nghiệp được phục hồi. Được sự giúp đỡ, hướng dẫn của Nhà nước như: cung cấp nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, hàng trăm khung dệt gia đình tiếp tục hoạt động, hàng năm nhận gia công cho công ty công thương Hà Đông hàng vạn mét vải. Qua 3 năm khôi phục, ở 4 xóm: xóm Ngang, xóm Tháp, xóm Chợ, xóm Đình đều thành lập các tổ sản xuất thủ công.
 
Năm học 1955-1956, trường phổ thông cấp I Hữu Hưng thành lập, đón nhận học sinh cắp sách đến trường. Phong trào bình dân học vụ diễn ra sôi nổi, thu hút mọi người tham gia. Trạm y tế xã được hình thành cùng với mạng lưới vệ sinh viên ở khắp các xóm thôn. Toàn dân hăng hái tham gia phong trào vệ sinh phòng bệnh, góp phần ngăn chặn phát sinh các dịch bệnh như: sốt rét, đậu mùa… Ban Văn hoá thông tin tích cực vận động tuyên truyền nhân dân đẩy mạnh sản xuất, thi đua xây dựng nếp sống mới. Nhà Văn hoá (xóm Đình) và sân khấu ngoài trời (sân Đình Đại Mỗ) thường xuyên vang lên lời ca tiếng hát của các đội văn nghệ trong xã và văn công chuyên nghiệp về đây biểu diễn, khơi dậy không khí tươi vui lành mạnh trong nhân dân. Để ghi nhớ công ơn các chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong sự nghiệp bảo vệ đất nước, thời gian này, nghĩa trang liệt sĩ của xã được khởi công xây dựng.
 
Qua thực tế lao động sản xuất, chi bộ Đảng được củng cố và phát triển, đáp ứng vai trò hạt nhân lãnh đạo phong trào cách mạng của địa phương. Đến cuối năm 1957, chi bộ Hữu Hưng có hơn 30 đảng viên, trong đó Đại Mỗ có hơn 20 đảng viên.
 
2. Xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, phát triển kinh tế, văn hoá (1958-1960)
 
Kết thúc thời kỳ khôi phục kinh tế, Đảng ta đề ra chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp theo hướng đưa nông dân vào tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp rồi lên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc cao.
 
Ở Đại Mỗ, sau 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế, đời sống nhân dân có phần nâng lên. Phong trào đổi công phát triển sớm đã phát huy tác dụng hỗ trợ giúp đỡ nhau phát triển sản xuất, nhất là với những gia đình neo đơn, hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, với cách làm ăn tiểu nông manh mún, tiềm năng trong nông nghiệp không được phát huy, điều kiện tập trung lao động làm thuỷ lợi và cải tạo đồng ruộng gặp khó khăn. Vì vậy, đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể là yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc đó.
 
Thực hiện chủ trương của Đảng, chi bộ Đảng đã lãnh đạo nhân dân trong xã thực hiện phong trào hợp tác hoá. Chi bộ xác định vai trò trách nhiệm của đảng viên phải gương mẫu thực hiện, đồng thời tích cực vận động gia đình và mọi người xung quanh cùng tham gia. Cuộc đấu tranh tư tưởng giữa “hai con đường” xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; giữa lối làm ăn tập thể và lối làm ăn cá thể diễn ra khá gay gắt trong phạm vi toàn xã cũng như từng gia đình ở Đại Mỗ. Chi bộ mở đợt học tập sâu rộng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cho mọi người thấy rõ muốn có chủ nghĩa xã hội phải đi vào con đường làm ăn tập thể.
 
Năm 1958, Đại Mỗ đẩy mạnh phong trào đổi công, từ đổi công từng vụ, từng việc, nay tiến lên đổi công thường xuyên có bình công chấm điểm. Cuối năm 1958, toàn xã có 70% số hộ vào tổ đổi công.
 
Trên cơ sở phong trào đổi công phát triển, đầu năm 1959, theo sự chỉ đạo của huyện, thôn Giao Quang được chọn xây dựng thí điểm hợp tác xã nông nghiệp.Tháng 4/1959, hợp tác xã nông nghiệp Giao Hữu (thôn Giao Quang) được thành lập đầu tiên của xã gồm 17 hộ, do ông Nguyễn Xuân Khuyên làm chủ nhiệm.
 
Thực hiện chủ trương của tỉnh, xây dựng hợp tác xã công nông, giữa năm 1959, hợp tác xã công nông Tiên Tiến (xóm Ngang) ra đời với 40 hộ gồm 100 xã viên do ông Nguyễn Huynh làm chủ nhiệm. Sau một thời gian thực hiện mô hình mới vừa sản xuất nông nghiệp vừa dệt lụa, Đại Mỗ có thêm 3 hợp tác xã công nông được thành lập. Đó là hợp tác xã Nhật Tiến (xóm Đình), do ông Nguyễn Chí Chung làm chủ nhiệm, hợp tác xã Hưng Tiến (xóm Tháp), do ông Nguyễn Thiện Vũ làm chủ nhiệm, hợp tác xã Hưng Thành (xóm Chợ), do ông Nguyễn Đăng Sinh làm chủ nhiệm.
 
Mùa xuân năm 1960, thành lập hợp tác xã nông nghiệp An Thái, do ông Đỗ Quang Khê làm chủ nhiệm. Những ngày đầu xây dựng phong trào, chi bộ Đảng và chính quyền đã cân nhắc lựa chọn những hộ có đủ tiêu chuẩn: có đủ ruộng đất, lao động, công cụ và hoàn toàn tự nguyện mới nhận đơn vào hợp tác xã. Hợp tác xã được thành lập tạo điều kiện để áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới. Do vậy, các hợp tác xã đều thể hiện ưu thế hơn so với làm ăn cá thể. Đến cuối năm 1960, Đại Mỗ có 6 hợp tác xã trong đó có 2 hợp tác xã nông nghiệp và 4 hợp tác xã công nông với hơn 85% số hộ và gần 80% số ruộng đất được tập thể hoá.
 
Đi đôi với hợp tác hoá nông nghiệp, chi bộ Đảng quyết định xây dựng hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tín dụng. Tháng 4/1958, thành lập hợp tác xã mua bán. Đầu năm 1959, hợp tác xã tín dụng ra đời. Từ đó hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tín dụng đã phát huy tác dụng cung ứng các loại vật tư nông cụ, những mặt hàng thiết yếu phục vụ dân sinh và cho nhân dân vay vốn để phát triển sản xuất.
 
Quan hệ sản xuất mới đã tạo sức mạnh cộng đồng để nhân dân Đại Mỗ vượt qua khó khăn trước sự đe doạ của thiên tai. Vụ mùa năm 1958, xảy ra hạn hán nặng, chính quyền xã huy động hàng nghìn lao động với những chiếc gầu sòng, gầu giai, cọn đạp chân tát nước truyền từ 4 đến 5 bậc ruộng, có chỗ tới 8 bậc từ sông Nhuệ vào đồng. Nhân dân Đại Mỗ cùng với bộ đội đóng tại địa phương mở những chiến dịch làm thuỷ lợi. Con mương dài hàng nghìn mét từ miếu Hàm Rồng qua đình An Thái đến Giao Quang được đào đắp. Diện tích tưới tiêu tăng lên, nhiều chỗ trước đây chỉ cấy 1 vụ nay có thể cấy 2 vụ. Xã thành lập Đội khoa học kỹ thuật hướng dẫn bà con nông dân áp dụng những biện pháp kỹ thuật mới như: chọn giống, ngâm giống, thử độ chua của đất, cấy dày nhỏ dảnh. Phong trào làm bèo hoa dâu, làm phân xanh do lực lượng thanh niên làm nòng cốt phát triển mạnh mẽ. Với tinh thần hăng hái, thanh niên đã toả vào vùng ven nội: Láng, Ô Chợ Dừa, Ngã Tư Sở… lấy cỏ và bèo đem về ủ ruộng. Từ phong trào xuất hiện nhiều “Kiện tướng” làm phân xanh, làm thuỷ lợi. Khẩu hiệu “Sạch làng tốt ruộng” đã lôi cuốn đông đảo mọi người hưởng ứng làm cho đường làng ngõ xóm sạch sẽ, phong quang, đồng ruộng xanh tốt. Phong trào cải tiến nông cụ, giải phóng đôi vai đã nhanh chóng thay thế những chiếc cày “mỏ giang” bằng cày 51, dùng xe cải tiến, cào cỏ Nghệ An. Những thay đổi đó góp phần làm cho năng suất, sản lượng cây trồng tăng lên.
 
Đối với thủ công nghiệp, dệt là nghề truyền thống ở Đại Mỗ. Lực lượng lao động được tổ chức lại, sản xuất thủ công bắt đầu phát huy thế mạnh, mở rộng gia công cho nhà nước. Hàng năm sản xuất ra hàng chục nghìn mét lụa tơ bóng, lụa hoa với chất lượng cao. Sản phẩm lụa hoa xuất khẩu sang Mông Cổ, loại A chiếm từ 80-85% được bạn hàng ưa chuộng.
 
Công tác văn hoá giáo dục có bước tiến mới. Năm học 1958-1959 trường phổ thông cấp II của xã được thành lập. Phong trào bổ túc văn hoá lôi cuốn hàng nghìn người tham gia. Những lớp bổ túc văn hoá được mở ở những gia đình có nhà rộng. Sau giờ làm việc, buổi trưa, buổi tối các xóm, thôn lại vang lên những tiếng học vần. Cuối năm 1958, Hữu Hưng căn bản xoá xong nạn mù chữ cho nhân dân trong xã và được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng III. Ban y tế xã được thành lập đã tích cực vận động nhân dân ăn sạch, ở sạch, uống sạch. Từng xóm, từng thôn đều có đội bóng đá, đội văn nghệ. Tiếng hát đội văn nghệ thôn Giao Quang đã vượt qua rặng tre làng vang xa theo những lần công diễn quanh vùng.
 
Công tác củng cố hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng được chú trọng. Tháng 4/1958, 88% cử tri đi bầu HĐND xã, 7 vị trong HĐND tham gia Uỷ ban hành chính xã. Đồng chí Nguyễn Huynh được bầu làm chủ tịch UBND xã. Chính quyền đã cố gắng chăm lo đời sống nhân dân bằng cách đẩy mạnh sản xuất. Chi bộ Đảng đã lấy phong trào hợp tác hoá để rèn luyện phát triển đảng viên; tổ chức cho đảng viên học tập về hai con đường, về thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó chi bộ còn đẩy mạnh đấu tranh chống tư tưởng bảo thủ, chủ quan, cá nhân chủ nghĩa. Mặc dù đời sống còn khó khăn nhưng đảng viên đều nêu cao vai trò gương mẫu trong hoạt động công tác, đi sát vận động quần chúng được nhân dân tin yêu và mến phục. Đợt phát triển đảng 6/1/1960 chi bộ kết nạp nhiều đảng viên. Cuối năm 1960 chi bộ Hữu Hưng có 37 đảng viên.
 
Các tổ chức thanh niên, phụ nữ, nông hội… hoạt động sôi nổi, động viên các tầng lớp nhân dân ra sức xây dựng quê hương. Lực lượng dân quân được nâng cao một bước cả về số lượng và chất lượng. Đầu năm 1960, thực hiện luật nghĩa vụ quân sự, xã Hữu Hưng tưng bừng mở hội tiễn đưa gần 40 thanh niên lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
 
Sau 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất mới được xác lập, tình hình kinh tế - xã hội ở xã đã có đổi thay. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trên đà khởi sắc.
 
3. Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
 
Tháng 9/1960, Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng đã định ra đường lối chung của cách mạng Việt Nam, tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.
 
Ngày 31/5/1961, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định mở rộng ngoại thành Hà Nội và chia lại tổ chức hành chính của thành phố gồm: 4 khu phố nội thành và 4 huyện ngoại thành. Huyện Từ Liêm được thành lập gồm 9 xã của quận V, 8 xã của quận VI (ngoại thành Hà Nội), 5 xã của huyện Đan Phượng, 3 xã của huyện Hoài Đức, trong đó có xã Hữu Hưng (thuộc tỉnh Hà Đông); tiểu khu Ngọc Trục (thị xã Hà Đông) cũng được cắt về Hà Nội sáp nhập trở thành một thôn của xã Hữu Hưng. Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, tháng 10/1961, Đảng bộ xã Hữu Hưng được thành lập với Ban chấp hành Đảng bộ do đồng chí Nguyễn Huynh làm bí thư. Sự ra đời của Đảng bộ đã tăng thêm sức mạnh để Hữu Hưng bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.
 
Nhìn chung, sau 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960) quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp ở Hữu Hưng được xác lập, nhưng chưa được củng cố vững chắc. Do thời gian thực hiện phong trào hợp tác xã nông nghiệp phát triển ồ ạt chỉ trong 2 năm đã căn bản hoàn thành, vì vậy khiến người nông dân chưa kịp “suy nghĩ trên mảnh ruộng của mình”. Đã thế, quá trình vận động lại ít chú trọng đến giáo dục, thuyết phục, càng về sau nặng biện pháp hành chính mang tính ép buộc, đã thu hút cả những người chưa thực sự tự nguyện hoặc chưa muốn vào hợp tác xã. Nhiều người đã vào hợp tác xã nhưng chưa thật sự gắn bó với phong trào.
 
Ngay từ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai con đường vẫn tiếp tục diễn ra, nhiều lúc quyết liệt hơn. Trong những năm 1961-1962, những khó khăn do thời tiết gây ra, có hợp tác xã bị sa sút thu hoạch kém, thêm vào đó năng lực tổ chức, trình độ quản lý của cán bộ còn non yếu. Hiện tượng ăn chia thiếu minh bạch của một số cán bộ đã gây tác động không nhỏ đến tư tưởng xã viên. Lúc này những người quen nếp nghĩ, cách làm tự do cho rằng vào hợp tác xã gò bó. Nhiều gia đình hoang mang dao động, nửa tin nửa ngờ. Đã có nhiều gia đình làm đơn xin ra hợp tác xã. Cuối năm 1961, đầu năm 1962 có hợp tác xã số hộ xin ra hợp tác xã tới 10%. Trước thử thách to lớn, Đảng bộ đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng đối với cán bộ đảng viên và nhân dân để mọi người thông suốt với đường lối của Đảng, đồng thời cũng tăng cường giáo dục thuyết phục quần chúng, nhất là những hộ muốn xin ra hợp tác xã. Mặt khác, Đảng bộ kiên quyết khắc phục những khuyết điểm, tồn tại. Sau một thời gian, sản xuất của các hợp tác xã dần trở lại ổn định. Nhiều hộ lại tiếp tục viết đơn xin vào hợp tác xã.
 
Năm 1962, hợp tác xã Tiền Tiến chuyển lên xây dựng cấp cao đầu tiên ở xã Hữu Hưng. Năm 1963, Hữu Hưng triển khai cuộc vận động tiến hành cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật; xã tiến hành khoán công, định mức công việc cho đội sản xuất và người lao động, có chế độ khuyến khích vật chất làm đòn xeo thúc đẩy sản xuất phát triển. Qua cải tiến quản lý tinh thần làm chủ của xã viên được phát huy, năng lực cán bộ được nâng lên một bước. Công tác quản lý như: lao động, kế hoạch, tài vụ đi vào nề nếp. Những người buôn bán chạy chợ đã trở về sản xuất. Quá trình thực hiện cuộc vận động các hợp tác xã nhỏ được sáp nhập thành hợp tác xã liên thôn và chuyển lên bậc cao. Từ 6 hợp tác xã nông nghiệp hợp nhất lại thành 2 hợp tác xã, đó là hợp tác xã Quang Tiến và hợp tác xã Tiến Thành. Đến lúc này, Đại Mỗ có 3 hợp tác xã nông nghiệp: Quang Tiến, Tiến Thành và Quyết Tiến (thôn Ngọc Trục). Sau khi được sáp nhập, tiềm năng của hợp tác xã được phát huy, lao động được phân bổ hợp lý, ngành nghề mở rộng. Đến năm 1964, Hữu Hưng có 95% số hộ nông dân vào hợp tác xã.
 
Thời gian này hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng ngày càng phát huy tác dụng tích cực, đã thu hút nhiều hộ tham gia góp vốn xây dựng hợp tác xã mua bán và gửi tiền tiết kiệm. Hợp tác xã mua bán kịp thời đưa những mặt hàng thiết yếu đến tay người tiêu dùng. Hợp tác xã tín dụng mở rộng cho xã viên vay vốn phục vụ xây dựng và phát triển sản xuất.
 
Đi đôi với củng cố quan hệ sản xuất, các hợp tác xã tiếp tục đẩy mạnh phong trào làm thuỷ lợi, coi đây là biện pháp quan trọng hàng đầu. Được cấp trên đầu tư kinh phí và kỹ thuật, Hữu Hưng dành hàng vạn ngày công xây dựng công trình thuỷ lợi Cầu Đôi gồm ba tuyến mương nổi toả về đồng Ngọc Trục, về đồng Dốc La đến Dương Nội, về đồng Giao Quang-An Thái đến Phú Thứ. Trong những năm 1961-1965, các đội thuỷ lợi của xã còn góp sức đào mương Đan Hoài, đắp đập chống tràn Phú Thứ. Kết hợp với thuỷ lợi việc khoanh vùng, cải tạo đồng ruộng triển khai rộng khắp, tạo thành những bờ vùng bờ thửa với những khoảnh ruộng khá bằng phẳng. Hệ thống đường giao thông liên thôn, liên xã được mở mang nâng cấp, đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển trong xã.
 
Quá tình thực hiện kế hoạch 5 năm, nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng trong trồng trọt và chăn nuôi. Các giống lúa xũ, năng suất thấp được thay bằng giống lúa mới có năng suất cao. Nếu trước đây giống lúa cũ chỉ cho năng suất 80-90kg/sào, giờ đây áp dụng giống mới đưa năng suất lên 102-103kg/sào. Đặc biệt trong chăn nuôi, trên cơ sở định hướng đúng đắn của ban lãnh đạo xã: Muốn đẩy mạnh thâm canh cây trồng phải tạo được nguồn phân chuồng đáng kể. Thôn Giao Quang được chọn là đơn vị điểm phát triển giống lúa lai. Sau nhiều năm chủ động tìm tòi, học hỏi, được sự giúp đỡ của trại giống Phú Lãm (Hà Đông), giống lợn lai kinh tế đầu tiên được ra đời ở Đại Mỗ. Đó là kết quả của quá trình lai ghép giữa giống lợn ngoại với lợn nái ở Đại Mỗ. Giống lợn lai kinh tế đã đưa năng suất lợn xuất chuồng từ 40-50kg/con lên tới 80-90kg/con. Kết quả đó mở ra khả năng mới trong phát triển chăn nuôi lợn ở Đại Mỗ. Thắng lợi có ý nghĩa lớn về kinh tế, nhưng khi mở rộng phong trào nuôi lợn lai kinh tế trông nhân dân lại diễn ra cuộc đấu tranh không kém phần phức tạp. Câu ca “lợn nhai kinh thế” cứ ám ảnh mọi người. Mặc dù thấy lợi, nhưng nhiều gia đình kiên quyết không nuôi. Thời gian đầu, một số cán bộ xã đã làm gương nuôi trước, đồng thời đi sâu vận động thuyết phục quần chúng. Khi đã có nhiều gia đình tham gia, lại gặp khó khăn mới: lợn giống bán ra không nơi tiêu thụ. Xã phải cử người lên Hoà Bình, về xuôi Hải Phòng tìm hiểu thị trường. Mọi khó khăn dần dần được tháo gỡ. Nhiều gia đình trước đây ai ngại nay hăng hái nhiệt tình. Từ Đại Mỗ phong trào nuôi lợn lai kinh tế mở rộng ra các vùng xung quanh và nhiều nơi khác. Bên cạnh chăn nuôi gia đình phát triển, các hợp tác xã đều có trại chăn nuôi tập thể, bình quân tới vài trăm con. Trại giống Quang Tiến hàng năm cung cấp hàng nghìn con lợn lai kinh tế không chỉ cho nhân dân trong huyện mà còn cấp cho thành phố và các tỉnh bạn.
 
Những cố gắng của Đảng bộ và nhân dân Hữu Hưng: làm thuỷ lợi, áp dụng khoa học kỹ thuật đã mở rộng thêm, diện tích lúa chiêm lúc mới đạt 1/3 tổng số diện tích canh tác, đến năm 1965 đạt 90% diện tích. Từ năm 1961, vụ lúa Nam Ninh được mở rộng. Cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp được tăng cường. Các hợp tác xã nông nghiệp đều xây dựng nhà kho, sân phơi, trại chăn nuôi và trang bị thêm các loại máy tuốt lúa, máy rửa chuồng trại máy nghiền thức ăn gia súc. Xen giữa những lùm cây xanh, trong từng thôn xóm bắt đầu mọc lên những ngôi nhà ngói đỏ tươi. Đời sống nhân dân được nâng lên. Nhiều gia đình không những đủ ăn mà còn có phần lương thực dự phòng khi giáp hạt.
 
Trong thủ công nghiệp, sự ra đời của hợp tác xã công nông những năm trước, bước đầu phát huy tác dụng, nhưng quá trình sản xuất, hình thức đó cũng bộc lộ những mặt hạn chế không mở ra khả năng phát triển mới cho thủ công nghiệp và nông nghiệp. Việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triển theo chiều sâu của mỗi ngành gặp rất nhiều khó khăn. Theo chủ trương của huyện: tách thủ công nghiệp ra khỏi nông nghiệp, tháng 5/1963, bốn hợp tác xã thủ công ra đời gồm: hợp tác xã Nhật Tiến có 80 hộ xã viên, do ông Nhâm làm chủ nhiệm; hợp tác xã Tiên Tiến do ông Lộc làm chủ nhiệm; hợp tác xã Hưng Tiến do ông Tiếp làm chủ nhiệm, hợp tác xã Tiến Thành do ông Hào làm chủ nhiệm, mỗi hợp tác xã có 70 hộ xã viên.
 
Sau khi thành lập, các hợp tác xã thủ công nghiệp thực hiện cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật. Cuộc vận động đã góp phần nâng cao ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần làm chủ của cán bộ xã viên. Công tác quản lý và điều hành của hợp tác xã dần dần đi vào nề nếp. Cuối năm 1964, bốn hợp tác xã sáp nhập thành 2 hợp tác xã là: Tiền Tiến và Hưng Tiến, đồng thời chuyển lên bậc cao.
 
Các hợp tác xã đã dấy lên phong trào thi đua với hợp tác xã thủ công nghiệp Thành Công (Thanh Hoá), Hoà Xá (Ứng Hoà) và đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Đã có nhiều sáng kiến đạt hiệu quả kinh tế cao được phổ biến và áp dụng rộng rãi trong ngành. Hợp tác xã Tiền Tiến cải tiến thành công bộ phận mắc cửi tơ. Sáng kiến này không chỉ làm giảm một nửa số người làm mà còn đưa năng suất tăng lên gấp đôi. Quan trọng hơn, sáng kiến đã làm thay đổi toàn bộ cách làm truyền thống cũ mắc theo lối thủ công từ bao đời nay tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt. Hợp tác xã còn có sáng kiến cải tiến bàn đột dập hoa với lỗ đột chính xác, năng suất tăng gấp 5 lần đột thủ công. Các sáng kiến đều được áp dụng ở khắp cơ sở dệt trong thành phố. Hợp tác xã Tiền Tiến trở thành lá cờ đầu của ngành sản xuất thủ công toàn huyện và được Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng III. Ở hợp tác xã Hưng Tiến có sáng kiến cải tiến máy đánh suốt. Hội nghị tổng kết kỹ thuật toàn huyện Từ Liêm đã về đây tham quan và được nhiều nơi trong huyện làm theo. Từ phong trào đã xuất hiện những chiến sĩ thi đua, lao động tiên tiến. Ngoài việc mở rộng mặt hàng lụa hoa xuất khẩu, thủ công nghiệp Đại Mỗ có thêm hàng lụa trơn khổ rộng xuất sang Nhật Bản và Liên Xô. Các nghề thủ công gia đình, thêu ren (Đại Mỗ), đan phên, đan bồ (Ngọc Trục) và một số ngành nghề khác được chú ý mở rộng góp phần tăng thêm thu nhập cho gia đình xã viên.
 
Giáo dục phổ thông chú ý nâng cao chất lượng dạy và học. Trường cấp I, cấp II đều thực hiện phương châm học đi đôi với hành, gắn học tập với lao động sản xuất. Các lớp mẫu giáo nhà trẻ được thành lập.
 
Công tác y tế vận động nhân dân đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh. Thực hiện 3 mục tiêu: xây giếng khơi, xây nhà tắm, làm hố xí 2 ngăn. Trạm y tế xã được tăng cường đội ngũ thầy thuốc, từ 1 y sĩ năm 1961 tăng lên 4 y sĩ năm 1965. Hàng năm có hàng trăm lượt người được khám chữa bệnh.
 
Đầu năm 1964, Nhà nước có quyết định tách xã Hữu Hưng thành 2 xã Đại Mỗ và Tây Mỗ. Đảng bộ xã Đại Mỗ được thành lập có 70 đảng viên. Ban chấp hành Đảng bộ do đồng chí Nguyễn Huynh làm bí thư. Bộ máy chính quyền xã cũng được củng cố cho phù hợp với điều kiện mới, đồng chí Nguyễn Đắc Kiên được bầu làm chủ tịch Uỷ ban hành chính xã. Các ban ngành, đoàn thể trong xã lần lượt ra đời đã nhanh chóng phát huy sức mạnh tổng hợp, góp phần đưa phong trào của xã phát triển về mọi mặt.
 
II. ĐẠI MỖ TIẾP TỤC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, GÓP PHẦN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, CHI VIỆN TIỀN TUYẾN, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ (1965-1975)
 
1. Góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và chi viện cho chiến trường miền Nam
 
Thất bại nặng nề trong chiến tranh đặc biệt, năm 1965, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến tranh cục bộ, ồ ạt đưa quân đội Mỹ và quân đội các nước vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam; đồng thời mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với cách mạng miền Nam.
 
Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 11 (3/1965) và lần thứ 12 (12/1965)-khoá III, đã chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể cho quân và dân miền Bắc là: vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tăng cường lực lượng quốc phòng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hết lòng chi viện cho cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam thực hiện thống nhất nước nhà.
 
Tháng 4 năm 1965, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (khoá III), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi người Việt Nam yêu nước.
 
Bước vào giai đoạn cách mạng mới, Đại Mỗ đã nhanh chóng chuyển hướng mọi hoạt động cho phù hợp với tình hình cả nước có chiến tranh. Được các nghị quyết của Trung ương soi sáng, Đảng bộ xác định: Trong bất cứ tình huống nào cũng phải giữ vững sản xuất, chuẩn bị tốt lực lượng sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh thi đua làm tròn nghĩa vụ đối với đồng bào miền Nam ruột thịt. Đảng bộ tổ chức cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân học tập quán triệt nghị quyết của Trung ương, của thành phố làm cho mọi người nhận rõ vai trò trách nhiệm của mình, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sản xuất và chiến đấu.
 
Xã Đại Mỗ gồm 4 thôn nằm dọc theo đường quốc lộ 70 và 72 trong khu vực giữa Đài phát thanh và Đài phát tín lớn của Trung ương. Nhận rõ vị trí của xã, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ nêu cao cảnh giác tổ chức lực lượng sẵn sàng chiến đấu đánh trả mọi hành động của đế quốc Mỹ.
 
Năm 1965, khi giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc, Đại Mỗ khẩn trương triển khai công tác phòng không nhân dân. Hệ thống hào giao thông hình thành chạy ngang dọc bao quanh các thôn xóm, trường học, nhà xưởng. Hàng nghìn hố cá nhân, hầm kèo chữ A được đào ở gia đình, trụ sở làm việc, nhà kho, dọc tuyến đường giao thông và nơi công cộng. Mọi sinh hoạt tập trung đông người được sắp xếp thời gian hợp lý tránh giờ cao điểm. Các lớp học phổ thông được bố trí phân tán. Học sinh đi học đều có mũ rơm, túi thuốc cá nhân bên người. Thời gian họp chợ Mỗ được điều chỉnh bảo đảm an toàn cho dân. Ở từng thôn đều thành lập các đội cứu thương, tải thương, cứu sập hầm và lập ra các phương án khắc phục hậu quả khi có chiến sự xảy ra nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại về người và của.
 
Cùng với việc tổ chức phòng tránh, nhân dân Đại Mỗ còn tiếp đón, thu xếp nơi ăn, ở, làm việc chu đáo cho 16 cơ quan, xí nghiệp, viện nghiên cứu, trường học của các cơ quan Trung ương và thành phố, đơn vị bộ đội cùng với các gia đình cán bộ công nhân viên từ nội thành sơ tán về địa phương như: Trường Tuyên giáo Trung ương, Cục đo đạc bản đồ, Trường y tế Hà Nội, Viện nghiên cứu thuốc thú y, Kho hậu cần Bộ tư lệnh pháo binh, Kho hậu cần Bộ tư lệnh đặc công, đơn vị cơ công cơ yếu công binh, hợp tác xã Liên khu I, Kho Bộ nội vụ, Xí nghiệp may 20, Trường dạy cắt may Văn Hương, Hợp tác xã may Đại Đồng, Trường hậu cần và trường Y tế đặc công, Hợp tác xã nhuộm Thủ đô, Hợp tác xã Hồng Thái.
 
Công tác quân sự địa phương được Đảng bộ đặc biệt quan tâm. Lực lượng dân quân được củng cố, nâng cao sức chiến đấu về mọi mặt và thường xuyên tổ chức luyện tập bắn máy bay địch tầm thấp, đánh địch đổ bộ, phòng thủ bảo vệ xóm làng… Số lượng dân quân chiếm tỷ lệ từ 12 đến 15% số dân toàn xã và được biên chế thành một tiểu đoàn bao gômg ba đại đội: Quang Tiến, Tiến Thành và Quyết Tiến. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với lực lượng dân quân, Đảng uỷ xã đã phân công đồng chí bí thư làm chính trị viên xã đội. Hầu hết đảng viên đều tham gia lực lượng dân quân và giữ các cương vị chủ chốt. Ban quân sự xã không ngừng được củng cố và tăng cường, nâng cao năng lực lãnh đạo, khả năng chỉ huy chiến đấu.
 
Sẵn sàng đánh trả máy bay địch, xã thành lập một trung đội trực chiến gồm 12 đội viên, chia làm 2 tiểu đội trực chiến suốt ngày đêm. Một tiểu đội ở Đồng Lăng (Ngọc Trục), một tiểu đội ở Mã Hà (xóm Tháp). Mỗi tiểu đội được trang bị súng thượng liên, 12ly7 và 14ly5 với cơ số đạn hợp lý. Năm 1966, khi giặc Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt vào Thủ đô, theo kế hoạch của huyện, xã tổ chức một tiểu đội dân quân sang trực chiến ở Cầu Đôi, xã Mễ Trì làm nhiệm vụ bảo vệ Đài phát thanh. Cùng với lực lượng cơ động chiến đấu, xã còn thành lập tổ quan sát máy bay địch. Tổ dựng chòi cao ở khu vực Mã Hà làm nhiệm vụ theo dõi máy bay địch đến gần và hướng bom rơi đánh kẻng báo động giúp cho nhân dân chủ động phòng tránh.
 
Với khẩu hiệu “Tay cày tay súng”, dân quân trở thành lực lượng nòng cốt trong chiến đấu cũng như trong sản xuất và thường xuyên ngày cũng như đêm có lực lượng tuần tra canh gác giữ gìn trật tự an ninh xóm làng. Dân quân, thanh niên phụ nữ đã dành hàng nghìn ngày công tham gia cùng bộ đội đào đắp trận địa chiến đấu khu Đồng Miễu, Cầu Đôi và nhiều trận địa khác trong khu vực. Cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã tạo nên sức mạnh tổng hợp lôi cuốn mọi người dân Đại Mỗ tham gia. Bằng nghị lực và tình cảm - các mẹ trong Hội mẹ chiến sĩ - không sợ khó khăn ác liệt, giữa những ngày hè nắng gió đã đến trận địa mang theo những ấm nước chè xanh, những lời thăm hỏi chân tình, động viên chiến sĩ giữ vững tay súng bảo vệ bầu trời. Các em thiếu nhi phổ thông Đại Mỗ đã gom nhặt giẻ vụn, cho các chú bộ đội lau súng và chặt cành cây xanh nguỵ trang trận địa.
 
Giữa năm 1966, địch đánh Phú Xá (Phú Thượng), lòng căm thù giặc sôi lên trong lòng người dân Đại Mỗ. Cùng chia sẻ những tổn thất mất mát, hưởng ứng chủ trương của Huyện uỷ Từ Lliêm, nhân dân Đại Mỗ đã đóng góp nguyên vật liệu dựng một ngôi nhà giúp đồng bào Phú Xá.
 
Trải qua thử thách trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và thứ hai của giặc, nhiều nhà máy, xí nghiệp, khu phố, xóm làng, bệnh viện, trường học ở Hà Nội bị phá huỷ nặng nề. Ngày 28/12/1972, hơn 70 quả bom Mỹ đã khoét sâu xuống khu Đồng Tranh, đình Cửa Miếu (thôn Ngọc Trục), làm 2 người chết, 6 người bị thương, 24 ngôi nhà bị phá hỏng. Ngay sau ki dứt tiếng bom, các lực lượng cứu hộ và dân quân đã có mặt kịp thời giúp dân khắc phục hậu quả.
 
Sau đợt ném bom cuối năm 1972, xã đã huy động 1 trung đội dân quân gồm 20 người sang giúp nhân dân Mễ Trì khắc phục hậu quả.
Trong chiến đấu dân quân Đại Mỗ đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng phòng không thành phố đánh trả máy bay địch, bảo vệ Đài phát thanh, Đài phát tín, góp phần đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đặc biệt là trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972.
 
Công tác bảo vệ trật tự trị an được duy trì tốt. Trong bom đạn, dân quân cùng lực lượng công an thường xuyên canh gác bảo vệ tài sản tập thể và của nhân dân. Mọi người nêu cao tinh thần cảnh giác đập tan những luận điệu chia rẽ, phao tin đồn nhảm của kẻ địch.
 
Hưởng ứng phong trào “3 sẵn sàng” do Thành đoàn Hà Nội phát động, thanh niên Đại Mỗ sôi nổi ghi tên tình nguyện “3 sẵn sàng”. Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đã thôi thúc hàng trăm thanh niên lên đường nhập ngũ. Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ ý thức rõ trách nhiệm tham gia bảo vệ miền Bắc và chi viện sức người, sức của đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Hàng năm cứ mỗi đợt tuyển quân không khí xóm làng lại nhộn nhịp hẳn lên. Ngoài tình cảm họ hàng, gia đình nhắn nhủ người thân ra đi, Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể của xã đã tổ chức đến từng gia đình có con em nhập ngũ thăm hỏi động viên. Chính quyền xã đã trích một phần kinh phí, đồng thời vận động nhân dân đóng góp tiền gạo giao nộp cho huyện để mở những đợt “bồi dưỡng sức khoẻ ngắn hạn” cho những thanh niên “thấp bé nhẹ cân”.
 
Các đợt tuyển quân hàng năm Đại Mỗ luôn đạt chỉ tiêu cả về số lượng và chất lượng. Nhiều thanh hiên thể hiện quyết tâm của mình làm đơn khai tăng tuổi, tình nguyện xin đi. Có những đảng viên hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ già, con nhỏ vẫn vui vẻ lên đường. Có trường hợp hai anh em ruột cùng một ngày lên đường nhập ngũ. Có gia đình ông là liệt sĩ, nay cháu lại tiếp bước cầm súng đánh Mỹ và đã anh dũng hy sinh. Lại có gia đình 3-4 con cùng chung chiến hào. Có những bà mẹ tuổi cao vẫn vui vẻ tiễn đưa con trai duy nhất của mình ra trận để rồi nén chịu đau thương trước niềm tự hào có người con anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.
 
Bảo đảm cho những người ra đi yên tâm chiến đấu, giết giặc lập công, Đảng bộ Đại Mỗ rất coi trọng công tác hậu phương quân đội. Chính quyền xã thực hiện tốt chính sách xã hội đối với các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội… Nhiều gia đình được chính quyền tạo điều kiện giúp đỡ về nguyên vật liệu, công thợ trong việc sửa chữa nhà cửa. Hợp tác xã đã ổn định mức bình quân lương thực cho các gia đình gặp khó khăn.
 
2. Đảng bộ lãnh đạo nhân dân giữ vững sản xuất
 
Thực hiện chủ trương của huyện, từ năm 1966, Đảng bộ mở cuộc vận động xây dựng “chi bộ 4 tốt”, “Đảng bộ 4 tốt” và triển khai công tác bảo vệ Đảng. Cuộc vận động đã góp phần củng cố khối đoàn kết thống nhất, nâng cao ý chí chiến đấu và năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng. Nhiệm vụ của từng cấp uỷ và mỗi đảng viên được xác định rõ ràng. Các đồng chí cấp uỷ được phân công bám sát cơ sở, bám sát phong trào. Đảng viên đều có vị trí trách nhiệm công tác của mình.
 
Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, những năm chống chiến tranh phá hoại gặp nhiều khó khăn thử thách. Đa số lao động trẻ, khoẻ đều tham gia lực lượng vũ trang lên đường chiến đấu. Còn lại người già và phụ nữ. Máy bay địch thường xuyên hoạt động làm cho sản xuất không ổn định. Bên cạnh đó lại còn thiên tai hạn hán, lụt lội, sâu bệnh gây ra. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Chính trị đặc biệt “Mỗi người phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”, cán bộ, đảng viên và nhân dân Đại Mỗ đã phấn đấu giữ vững sản xuất. Thi đua với các chiến sĩ ngoài mặt trận, hàng nghìn chị em phu nữ ghi tên tham gia phong trào “3 đảm đang” do Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam phát động. Cả những phần việc trước đây chủ yếu do nam giới làm như cày, bừa, nay nhiều chị em trực tiếp thay thế đảm nhận. Chị em còn là nòng cốt trong các đội chuyên, tích cực trong phong trào xây dựng gia đình “5 tốt”. Được rèn luyện thử thách, nhiều chị em đã tự khẳng định mình, nhiệt tình năng nổ tham gia công tác quản lý, công tác xã hội. Với việc nhà, chị em làm tròn trách nhiệm của những người con, người vợ, người mẹ lo toan công việc gia đình, chăm sóc cha mẹ già, nuôi dạy con cái…
 
Trong các năm từ năm 1966 đến 1968, các hợp tác xã đào đắp hàng trăm mét khối đất, tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống mương nhánh dẫn nước, đưa diện tích đất canh tác được chủ động tưới tiêu cả 2 vụ tăng lên đạt 80-85%. Cùng với thủy lợi hoá, tháng 4/1967, Ngọc Trục là thôn đầu tiên của xã đưa điện tới các gia đình. Đến năm 1969, Đại Mỗ hoàn thành điện khí hoá toàn xã. Nhờ mạng lưới điện, nhiều khâu nặng nhọc trong sản xuất được giảm nhẹ. Từ đó các hợp tác xã có điều kiện trang bị thêm máy xay sát, máy tuốt lúa, máy nghiền thức ăn gia súc chạy điện. Đời sống sinh hoạt của nhân dân được cải thiện. Hệ thống đường giao thông từ Giao Quang - An Thái đến trục đường 70 được nâng cấp mở rộng. Các giống lúa mới NN8 đang từng bước được đưa vào cấy thí điểm. Giống chiêm Hải Phòng đưa vào cấy ngày càng nhiều. Các tổ kỹ thuật hoạt động tích cực trong việc xử lý giống, phòng trừ sâu bệnh. Mỗi khi gặp sâu bệnh nhiều, các hợp tác xã thực hiện quy hoạch, khoanh vùng diệt tập trung, mở hội hoa đăng bắt bướm… Kết quả đã hạn chế những thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Tổ kỹ thuật hợp tác xã Quyết Tiến và Quang Tiến đã xác định vị trí then chốt của công tác này, luôn đi đầu áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tuyên truyền vận động xã viên cấy lúa thẳng hàng, xây hàng chục bể xử lý giống. Phong trào làm phân xanh, làm bèo hoa dâu phát triển sôi nổi. Tận dụng mọi nguồn đất, dọc theo ven đường, bờ ruộng, các hợp tác xã đều trồng điền thanh, muồng muồng tạo ra nguồn phân xanh đáng kể. Nông cụ cải tiến áp dụng rộng rãi, cào cỏ đẩy tay, có tác dụng làm sục bùn, năng suất cao. Xe cải tiến được dùng ngày càng nhiều.
 
Những năm đánh Mỹ, mặc dù máy bay địch thường xuyên gầm rú trên trời, cán bộ xã viên vẫn ngày đêm bám sát ruộng đồng. Xã viên được phân thành từng tốp nhỏ ra đồng từ sáng sớm và xế chiều. Khi địch đánh phá ác liệt, để bảo đảm thời vụ mọi người vẫn quyết tâm gặt hái, đi làm từ 2-3 giờ sáng. Phong trào thi đua diễn ra nhiều hình thức. Giữa các hợp tác xã đã tổ chức giao ước thi đua với nội dung: chăn nuôi giỏi, thu hoạch nhanh, nộp thuế đủ… Chính quyền xã đứng ra chủ trì tổng kết. Các đoàn thể có những hoạt động sôi nổi như hội “thi cấy của phụ nữ”, xây dựng cánh đồng tăng sản của thanh niên, hội thi “trâu béo trâu khoẻ” của phụ lão… Phong trào khuyến khích thúc đẩy sản xuất, tạo ra nếp sống tươi vui lành mạnh ở nông thôn. Nhiều gương với kỷ lục lao động cao đã xuất hiện: chị Dự, chị Sĩ ở Giao Quang là những tay cấy giỏi dự thi cấp thành phố. Cụ Thiết xóm Đình nhận chăm sóc trâu từ chỗ gầy yếu trở nên béo khỏe, được hợp tác xã nhiều lần biểu dương. Những biện pháp kỹ thuật đồng bộ, tưới tiêu hợp lý làm cho năng suất cây trồng tăng lên. Năm 1967, hợp tác xã Quyết Tiến (Ngọc Trục) vượt qua cửa ải 5 tấn, đạt năng suất 6 tấn lúa/1ha.
 
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi lợn có những bước tiến mới. Đàn lợn lai kinh tế được mở rộng cả khu vực tập thể và gia đình xã viên. Năm 1966, toàn xã có 550 con lợn nái, hàng năm cung cấp hàng nghìn con giống tốt. Giúp Đại Mỗ duy trì và phát triển đàn lợn lai kinh tế, thành phố đã tăng cường cho Quang Tiến 1 kỹ sư chăn nuôi. Sự say mê nghiên cứu của tổ kỹ thuật, lại được quan tâm chỉ đạo của Đảng uỷ, nhất là đồng chí bí thư, đã tạo ra nguồn thức ăn tổng hợp đưa đàn lợn bột trại Quang Tiến có lúc tăng trọng từ 20-25kg/1 tháng. Những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, trên cơ sở tiến bộ kỹ thuật trước đây, được sự đầu tư kỹ thuật của Viện chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp), các giống lợn lai F2, F3 tiếp tục ra đời. Từ năm 1969, Quang Tiến đã đón nhiều đoàn kinh tế từ các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Hà, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh… và cả khách nước ngoài (chuyên gia Cộng hoà dân chủ Đức) về đây tham quan, trao đổi kinh nghiệm. Tận dụng mặt nước đầm ao, chăn nuôi cá được mở rộng. Hàng năm Đại Mỗ đã cung cấp khối lượng lớn thực phẩm cho nhân dân và đều hoàn thành chỉ tiêu nghĩa vụ lương thực, thực phẩm với Nhà nước.
 
Ngày 2/9/1969, giữa lúc nhân dân Đại Mỗ đang ra sức phấn đấu xây dựng bảo vệ quê hương và đón mừng ngày độc lập của dân tộc thì Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của toàn Đảng, toàn dân ta qua đời. Trước nỗi đau thương lớn, nhân dân Đại Mỗ vô cùng thương tiếc Người.
 
Biến đau thương thành hành động cách mạng, Đảng bộ tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng và trong nhân dân. Thực hiện khẩu hiệu “Học tập và làm theo Di chúc của Người”, Đại Mỗ đề ra chương trình hành động cách mạng cụ thể trên mọi lĩnh vực công tác.
 
Vụ đông xuân năm 1969-1970, thực hiện chủ trương của huyện, toàn xã mở rộng diện tích lúa xuân, cấy giống NN8. Mặc dù đã làm thí điểm với kết quả khả quan nhưng khi mở rộng vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Đa số xã viên vẫn chưa tin vào giống mới nên chủ yếu vẫn sử dụng giống cũ. Đảng uỷ và chính quyền vừa vận động, thuyết phục xã viên vừa huy động lực lượng thanh niên nhổ hết giống cũ từ đồng Thìa đến giáp đồng Ngọc Trục, cấy thay bằng NN8. Biện pháp có “tả khuynh”, xong kết quả mang lại vụ xuân đạt năng suất cao 1,4tạ/sào. Thắng lợi đó tạo khả năng đẩy mạnh thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp. Năm 1970, Đại Mỗ đạt năng suất 6,5 tấn thóc/1ha.
 
Từ năm 1971 đến 1973, nhiều khó khăn do thiên tai, địch hoạ liên tiếp xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất. Tác động của chiến tranh đưa đến công tác quản lý có nhiều biểu hiện yếu kém. Một số cán bộ thiếu gương mẫu cùng với những hiện tượng tiêu cực nảy sinh và phát triển đã làm giảm lòng tin đối với quần chúng. Sản xuất nông nghiệp bắt đầu sa sút. Ở hợp tác xã Quyết Tiến (Ngọc Trục) vụ xuân năm 1973, năng suất chỉ đạt 38kg/sào. Đời sống khó khăn, nhiều gia đình thiếu đói, xã viên kém phấn khởi, bỏ sản xuất chuyển sang đan phên, đan bồ và chạy chợ. Huyện đã phải trợ cấp một phần lương thực, cứu đói.
 
Trước tình hình đó, Đảng bộ xã đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống biểu hiện vô trách nhiệm. Những cán bộ mà nhân dân có nhiều ý kiến đều được đưa ra xem xét và làm sáng tỏ tuỳ theo mức độ để xử lý. Đảng uỷ và chính quyền xã xác định phải tiến hành củng cố hợp tác xã. Các Ban chủ nhiệm hợp tác xã, các đội sản xuất được kiện toàn, mở rộng quyền dân chủ của xã viên tham gia đóng góp vào công việc chung. Giữa năm 1973, Đảng bộ tổ chức một đoàn đi tham quan học tập kinh nghiệm ở hợp tác xã Mỗ Lao gồm đủ thành phần: Đảng uỷ, chính quyền, hợp tác xã, đoàn thể quần chúng. Qua trao đổi, kinh nghiệm được rút ra là: phải cấy đúng thời vụ, cấy giống thuần chủng, bảo đảm nước, phân bón hợp lý. Ở Đại Mỗ trước đó phân bón chỉ có 200kg, thậm chí có chỗ 100kg/1sào, nay đưa lên 400kg/sào. Với quyết tâm, sản xuất nông nghiệp dần dần được phục hồi, tuy chưa cao nhưng đã tạo đà thoát khỏi vòng khủng hoảng. Riêng ở hợp tác xã Quyết Tiến (Ngọc Trục) từ chỗ yếu kém, vụ xuân 1974 đã vượt lên đạt năng suất 140kg/1sào. Đời sống nhân dân ổn định hơn.
 
Đối với thủ công nghiệp, các hợp tác xã vẫn duy trì sản xuất với nhịp độ ngày một tăng phục vụ xuất khẩu và quốc phòng. Suốt những năm chống Mỹ cứu nước, các hợp tác xã được giao thêm nhiệm vụ dệt vải bạt đáp ứng nhu cầu quốc phòng trong quân đội. Trong thử thách, ngành dệt Đại Mỗ cho ra đời nhiều mặt hàng xuất khẩu mới như: thảm len, thảm đay, quai dép hoa, khăn quàng… Trong đó nổi lên sản phẩm lụa hoa Vân Khánh xuất sang Pháp, số lượng mỗi năm lên tới hàng chục nghìn mét, đạt chất lượng cao. Phát huy truyền thống cần cù sáng tạo, hợp tác xã Tiền Tiến luôn giữ vững lá cờ đầu, tạo mọi điều kiện phát triển sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu. Hợp tác xã đã nghiên cứu và sản xuất thử thành công khăn bông dệt hoa nổi. Sản phẩm được Viện khoa học Việt Nam đánh giá cao. Cùng với tiến bộ trong kỹ thuật dệt, hợp tác xã có sáng kiến cải tiến máy guồng đánh ống tơ tằm đưa năng suất tăng gấp 10 lần đánh ống thủ công.
 
Từ năm 1969, ngành dệt Đại Mỗ đã cải tiến máy móc, công cụ chuyển từ quay tay, dậm chân sang chạy điện. Năng suất lao động tăng từ 3 đến 4 lần so với trước đây. Theo nhịp độ phát triển sản xuất, năm 1975, xã viên lên tới 500 người.
 
Kết quả trong sản xuất và sẵn sàng chiến đấu không tách rời sự lãnh đạo của Đảng bộ. Đảng bộ đặc biệt quan tâm tới công tác xây dựng Đảng trên cả 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trong đấu tranh Đảng bộ thực hiện phương châm ngăn ngừa là chính. Thông qua những kỳ sinh hoạt, mọi biểu hiện hoang mang dao động, ngại khó ngại khổ, giảm sút ý chí đều được phê phán kịp thời. Có những đảng viên giữ vai trò chủ chốt vi phạm pháp luật, Đảng bộ kiên quyết đấu tranh, xử lý kỷ luật khai trừ Đảng. Từ năm 1973, Đảng bộ triển khai thực hiện Nghị quyết 195 và Chỉ thị 192 tiếp tục nâng cao chất lượng đảng viên, đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng, đảm bảo sự trong sạch và vững mạnh của tổ chức. Hệ thống chính quyền xã cùng với các ban chuyên môn: công an, xã đội và đoàn thể thanh niên, phụ nữ, mặt trận không ngừng được củng cố.
 
Công tác y tế, văn hoá, giáo dục có những bước phát triển mới. Mặc dù học tập trong điều kiện sơ tán, chất lượng dạy và học vẫn đảm bảo. Hàng năm tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 80-85%. Các lớp bổ túc văn hoá thu hút nhiều học viên tham gia. Phong trào văn hoá văn nghệ duy trì sôi nổi, “tiếng hát át tiếng bom “bay bổng vang xa. Trạm y tế xã đã sản xuất được một số loại thuốc thông thường phục vụ sức khoẻ nhân dân như: hương liên hoàn, khung chỉ, viên bổ sâm, rượu bổ sâm… Phong trào trồng cây thuốc nam phát triển mạnh. Các cụ phụ lão đi đầu phong trào này, trong đó nổi lên phụ lão thôn Ngọc Trục. Hàng năm y tế xã bán cho ngành dược phẩm của huyện số lượng đáng kể các loại cây thuốc: hoài sơn, bạc hà, sâm đại hành… Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện.
 
Trong lúc nhân dân Đại Mỗ đang tập trung sức lực khắc phục hậu quả chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội, ổn định đời sống thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 của quân và dân miền Nam mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta giành thắng lợi hoàn toàn.
 
Qua 10 năm chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ đã nêu cao cảnh giác xây dựng lực lượng chiến đấu đủ mạnh tham gia phục vụ chiến đấu và chiến đấu, đánh trả mọi hành động ăn cướp của đế quốc Mỹ. Những thành quả Đại Mỗ giành được trong lao động sản xuất, xây dựng quê hương đã góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc.
 
Trong cuộc kháng chiến này, nhân dân Đại Mỗ đã tiễn đưa hàng trăm thanh niên lên đường nhập ngũ tham gia chiến đấu ở các chiến trường, có 84 người con ưu tú đã anh dũng hy sinh, trở thành liệt sĩ, 2 bà mẹ được công nhận danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Cũng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhân dân Đại Mỗ còn anh dũng trực tiếp chiến đấu ngay tại mảnh đất quê hương mình; đồng thời là nơi che chở, bảo vệ cho hàng chục cơ quan, đơn vị bộ đội chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Với những thành tích xuất sắc, nhân dân và cán bộ xã Đại Mỗ được tặng 400 huân, huy chương các loại và bằng khen.
 
Tự hào với truyền thống vẻ vang, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ vững vàng vượt qua mọi thử thách gian nan, ra sức xây dựng quê hương, đất nước trong thời kỳ cách mạng mới.
 
 
CHƯƠNG IV
ĐẠI MỖ TRONG THỜI KỲ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ
TỔ QUỐC CNXH, THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
(1975 - 2005)
 
I. XÂY DỰNG, BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG NHỮNG NĂM ĐẦU KHI CẢ NƯỚC THỐNG NHẤT (1975 - 1986)
 
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc vẻ vang đưa đất nước ta bước vào giai đoạn cách mạng mới. Giai đoạn cả nước thống nhất bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
 
Trước sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, niềm hân hoan phấn khởi đến với mỗi người dân Đại Mỗ. Xóm dưới làng trên tràn ngập không khí tươi vui. Động lực tinh thần đã tạo nên khí thế lao động mới ở nông thôn. Qua những năm tháng xây dựng và chiến đấu, Đảng bộ Đại Mỗ được trưởng thành tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm. Đó là nguồn sức mạnh để Đại Mỗ tiếp tục vươn lên. Tuy nhiên, lúc này, sản xuất và đời sống cũng xuất hiện những khó khăn. Do tác động của tình hình chung, trước hết là hậu quả của cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ gây ra, nhiều cơ sở kinh tế, văn hoá bị phá huỷ nặng nề. Cũng do chiến tranh đã phá vỡ nề nếp quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Những hiện tượng tiêu cực nảy sinh và phát triển. Sau ngày đất nước được thống nhất, nguồn viện trợ từ nước ngoài, nhất là nguyên liệu, nhiên liệu giảm mạnh, tác động không nhỏ đến sản xuất và đời sống. Trong xã hội nổi lên mâu thuẫn mới. Đó là trình độ sản xuất còn nhiều yếu kém, cơ sở vật chất còn nhỏ bé, nghèo nàn trong khi yêu cầu xây dựng đất nước với quy mô ngày càng lớn và nhu cầu của đời sống nhân dân lao động đòi hỏi phát triển cao hơn. Không những thế, các thế lực phản động trong và ngoài nước vẫn luôn tìm mọi cách chống phá cách mạng. Từ năm 1976 đến năm 1979, kẻ địch liên tiếp gây ra 2 cuộc chiến tranh biên giới phía tây nam và phía bắc. Ngoài ra chúng còn tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt. Những yếu tố đó đã tác động đến mọi nhà, mọi gia đình ở Đại Mỗ.
 
Năm 1976, năm mở đầu kế hoạch 5 năm (1976-1980), năm diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Ngày 25/4/1976, cử tri Đại Mỗ cùng cử tri cả nước phấn khởi tham gia bầu cử Quốc hội khoá VI của nước Việt Nam thống nhất. Ngày 2/7/1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá VI, quyết định đổi tên nước thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tiếp đến tháng 12/1976, tại Hà Nội diễn ra Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng. Đại hội đề ra đường lối chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới và quyết định đổi tên Đảng thành Đảng cộng sản Việt Nam.
 
Thực hiện chủ trương của Trung ương, của Thành uỷ Hà Nội, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ Từ Liêm, Đảng bộ Đại Mỗ đã tổ chức cho đảng viên và quần chúng học tập về tình hình và nhiệm vụ mới. Qua học tập, Đảng bộ kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng như ngại khó ngại khổ, suy bì đãi ngộ… Đảng bộ xác định: nêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy sức mạnh của Đảng bộ và nhân dân, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp lấy sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm, Đảng bộ đã phát động phong trào thi đua thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội năm 1976.
 
Trên tinh thần đó, các hợp tác xã nông nghiệp phấn đấu theo hướng chuyên canh, thâm canh. Các đội chuyên tiếp tục được củng cố. Vượt qua được thử thách, Đại Mỗ đã đưa sản lượng lương thực quy thóc từ 78 tấn năm 1975 lên 1100 tấn năm 1976. Cũng từ năm 1976, Đại Mỗ bắt đầu phát triển cây vụ đông, trong đó khoai tây giữ vai trò chủ lực. Năm 1976, khoai tây có diện tích 11 ha. Công tác thu mua lương thực, thực phẩm đạt kết quả tốt. Năm 1975 thu mua 162 tấn lương thực và 8 tấn lợn hơi, đến năm 1976 mức thu mua tăng lên 192 tấn lương thực và 40 tấn lợn hơi.
 
Trong phong trào thi đua lao động sản xuất, nổi lên hợp tác xã Quyết Tiến (Ngọc Trục), từ chỗ làm ăn thua lỗ (1973) Quyết Tiến trở thành hợp tác xã có nền nếp quản lý chặt chẽ, khoa học, bảo đảm hiệu quả, luôn dẫn đầu về năng suất lao động, sản lượng. Tháng 6/1976, hợp tác xã Quyết Tiến vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng III.
 
Cùng với nông nghiệp, hợp tác xã thủ công Tiền Tiến được tặng Huân chương Lao động hạng III. Từ năm 1976, tiếp thu cơ sở sản xuất của xí nghiệp thương binh sơ tán từ những năm trước đây, tổ sản xuất thủ công Tự Lực được thành lập.
 
Thực hiện Chỉ thị 208 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý nông nghiệp, Đảng bộ xã Đại Mỗ tập trung vào công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, từng bước chuẩn bị thành lập hợp tác xã nông nghiệp quy mô toàn xã. Quá trình triển khai trong nội bộ nhân dân diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng khá quyết liệt. Các hợp tác xã vốn xưa nay quen nếp nghĩ, cách làm theo quy mô nhỏ, giờ đây xây dựng quy mô lớn nên có nhiều vấn đề mới phát sinh. Đặc biệt do sự chênh lệch nhau về trình độ sản xuất, năng lực quản lý và mức thu nhập của từng hợp tác xã. Điều đó khiến mọi người trăn trở đắn đo. Ngay cả một số cán bộ, đảng viên cũng có sự suy bì tính toán thiệt hơn. Những nơi làm ăn khá, đại bộ phận xã viên chưa đồng tình chấp thuận. Tư tưởng cục bộ xuất hiện, đã xảy ra tình trạng các hợp tác xã đều phân tán tài sản, cơ sở vật chất như: chặt cây, dỡ nhà kho, chuồng trại … làm thiệt hại đến lợi ích chung. Được sự giúp đỡ của huyện và sự chỉ đạo sát sao của Đảng uỷ, tháng 7/1977, Đại Mỗ mở Đại hội xã viên, tiến hành hợp nhất 3 hợp tác xã thành một hợp tác xã quy mô toàn xã, do ông Nguyễn Văn Đảng làm chủ nhiệm.
 
Sau khi hợp nhất, hợp tác xã tiến hành sắp xếp lại lao động, củng cố các đội sản xuất theo từng thôn, chấn chỉnh đội chăn nuôi, đội thuỷ lợi được tăng cường với gần 100 người có nhiệm vụ tu sửa mương máng, hệ thống đường giao thông, bờ vùng bờ thửa và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước. Nhằm tận dụng mọi khả năng lao động, phát triển ngành nghề, hợp tác xã đã thành lập tổ dệt thảm len xuất khẩu (thôn Ngọc Trục) thu hút gần 60 lao động. Đầu năm 1978 tổ chức tổ thêu xuất khẩu với gần 40 lao động.
 
Đi đôi với củng cố quan hệ sản xuất, Đảng bộ quan tâm chỉ đạo phát triển sản xuất. Hợp tác xã chú trọng áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, mạnh dạn sử dụng giống lúa ngắn ngày có năng suất cao. Vụ đông tăng nhanh về diện tích và sản lượng. Năm 1978, diện tích khoai tây lên tới 60 ha, tăng gấp 3 lần so với năm 1977. Năm 1980, Đại Mỗ đã phấn đấu đạt năng suất khoai tây cao nhất 107tạ/1ha. Tuy nhiên trong nông nghiệp cũng bộc lộ những mặt sút kém. Năng suất lúa cả năm giảm mạnh. Năm 1977 đạt 30,7tạ/ha, đến năm 1980 còn 22tạ/ha. Tổng sản lượng quy thóc từ 1630 tấn năm 1977 xuống còn 1158 tấn năm 1980. Do quy mô hợp tác xã đưa lên quá lớn trong khi trình độ và năng lực quản lý của cán bộ còn thấp nên việc điều hành lúng túng kém hiệu quả ngay từ đội sản xuất. Suy nghĩ cho rằng: “Làm cho người khác hưởng” dẫn đến sự trông chờ, ỷ lại trong sản xuất. Thêm vào đó biểu hiện vụ lợi, dong công, phóng điểm, làm ăn gian dối liên tiếp xảy ra. Có đội khi thu hoạch tìm cách giảm bớt sản lượng, xã viên đổ thóc vào rơm làm cho cảnh “chia rơm đông hơn chia thóc”, tạo không khí kém phấn khởi, xã viên không gắn bó với tập thể.
 
Với chăn nuôi, Đại Mỗ cố gắng duy trì và phát triển đầu lợn sinh sản. Năm 1977, toàn xã có 375 con lợn nái, đến năm 1980 tăng lên 513 con. Song, do lương thực giảm nên nhìn chung chăn nuôi kém phát triển. Tổng số đàn lợn (trên 2 tháng tuổi) từ 1500 con năm 1978 xuống còn 1100 con năm 1979. Riêng đầu lợn tập thể suy giảm đáng kể từ 343 con năm 1976 còn 35 con năm 1980. Trâu bò cày kéo nhìn chung vẫn được giữ vững. Mặc dù có khó khăn, Đại Mỗ vẫn cố gắng bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ lương thực và thực phẩm với Nhà nước. Năm 1980, mức thu mua lương thực đạt 273 tấn, cao hơn tất cả những năm trước đó.
 
Sản xuất thủ công nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn. Nguồn điện, vật tư nguyên liệu thiếu, hầu hết các cơ sở dệt lâm vào tình trạng khủng hoảng. Điện không ổn định, có nhiều ca phải ngừng sản xuất. Một số máy dệt chạy điện nay phải chuyển sang đạp chân. Sản phẩm chủ yếu dệt vải bảo hộ lao động, lụa tơ tằm và sợi se. Lượng sản phẩm làm ra ngày càng giảm. Năm 1977, thủ công nghiệp Đại Mỗ làm ra 1,5 triệu mét vải các loại, đến năm 1980 chỉ còn 500.000 mét. Số lao động thủ công ở Đại Mỗ năm 1980 có 600 người, với giá trị tổng sản lượng đạt 1.800.000đồng.
 
Trong những năm 1976-1980, mặc dù kinh tế có những khó khăn nhưng được sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền, công tác giáo dục của xã tiếp tục phát triển. Xã đã đầu tư xây dựng 45 phòng học, trong đó có 30 phòng học cấp I và 15 phòng học cấp II. Nhà trường thường xuyên duy trì phong trào thi đua “Hai tốt”, thực hiện tốt phương châm “Học đi đôi với hành”. Hàng năm tỷ lệ học sinh lên lớp đạt từ 85-90%, học sinh tốt nghiệp đạt trên 80%.
 
Công tác y tế, chăm lo sức khoẻ nhân dân được coi trọng. Phong trào trồng cây thuốc nam, xây dựng 3 công trình vệ sinh được đẩy mạnh. Trạm xá xã phối hợp chặt chẽ với phòng y tế huyện tổ chức tiêm chủng phòng tránh dịch bệnh cho các cháu nhỏ trong độ tuổi.
 
Giữa lúc nhân dân Đại Mỗ cùng nhân dân cả nước hăng hái thi đua khôi phục, phát triển kinh tế thì các thế lực thù địch luôn có hành động khiêu khích, gây ra chiến tranh biên giới Tây -Nam và biên giới phía Bắc. Thực hiện chủ trương của cấp trên, Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã Đại Mỗ triển khai công tác quân sự địa phương trong tình hình mới, thực hiện kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, lập kế hoạch tác chiến xây dựng lực lượng dân quân, thường xuyên luyện tập nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu. Tháng 2/1979, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, hưởng ứng lệnh tổng động viên của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, nhiều thanh niên Đại Mỗ hăng hái xung phong lên đường nhập ngũ. Thế trận quốc phòng toàn dân được xây dựng vững chắc. Lực lượng dân quân được huy động tham gia đội hình của huyện đi xây dựng phòng tuyến sông Cầu. Thực hiện sự chỉ đạo của huyện, Đại Mỗ thành lập một trung đội quân dự nhiệm tái ngũ khoảng 40 đồng chí, chi viện cho tuyến trước, đồng thời thành lập 1 trung đội dân quân cơ động luôn ở tư thế sẵn sàng đợi lệnh lên đường bảo vệ Tổ quốc.
Trước những khó khăn, công tác có ý nghĩa quyết định là nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Đảng bộ đã tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV và các Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2, 3, 4, 5, 6, 7 (khoá IV), các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cấp trên cho cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở đó đã nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của đảng viên đối với sự lãnh đạo của Đảng.
 
Thực hiện Thông tri 22 và Chỉ thị 72 của Trung ương về củng cố, xây dựng Đảng, Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ thực hiện nghiêm túc công tác tự phê bình và phê bình. Tổ chức lấy ý kiến của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ cũng như từng đảng viên nhằm khắc phục những tồn tại yếu kém. Qua đó ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ được nâng cao. Quan hệ giữa đảng viên với quần chúng gắn bó chặt chẽ hơn. Năm 1980, Đảng bộ triển khai thực hiện Chỉ thị 83 của Trung ương Đảng về việc phát thẻ đảng viên. Công tác phát triển đảng viên mới có nhiều tiến bộ. Trong 5 năm (1976-1980), toàn Đảng bộ kết nạp 25 đảng viên mới. Đến năm 1980, Đảng bộ xã Đại Mỗ có 100 đảng viên.
 
Công tác củng cố xây dựng chính quyền được tăng cường một bước. Thực hiện Chỉ thị 33 ngày 24/1/1979 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân xã đã có nhiều biện pháp, vận động nhân dân tham gia quản lý kinh tế - xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng tích cực vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các phong trào thi đua do cấp trên phát động, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
 
Bước vào năm 1981, năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm (1981-1985), trong bối cảnh chung của cả nước, Đại Mỗ vẫn đứng trước những khó khăn, thiếu thốn về vật tư, nguyên liệu, điện… phục vụ sản xuất. Trình độ cán bộ nói chung còn hạn chế nên quản lý hợp tác xã quy mô lớn gặp khó khăn. Tiêu cực phát sinh, cơ sở vật chất và sản phẩm của hợp tác xã còn để lãng phí, mất mát, ảnh hưởng đến đời sống xã viên. Tình trạng xã viên không thiết tha với hợp tác xã, tìm cách làm các việc bên ngoài có chiều hướng tăng. Thời gian này, Đại Mỗ tiếp nhận những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước về sửa đổi quản lý nhằm từng bước thoát khỏi cơ chế quản lý quan liêu bao cấp. Ngày 13/1/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100 về công tác khoán trong nông nghiệp, ngày 21/1/1981, Chính phủ ban hành Quyết định số 25 và 26/CP về chủ trương, biện pháp phát huy quyền chủ động sản xuất kịnh doanh của các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp. Chỉ thị 100 đã gắn quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động ngay trên thửa ruộng nhận khoán nên bước đầu phát huy tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển.
 
Thực hiện chủ trương của Trung ương, dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ Từ Liêm, Đảng uỷ xã tổ chức quán triệt Chỉ thị 100, ra nghị quyết triển khai trong Đảng bộ. Đảng uỷ thành lập Ban chỉ đạo và thành lập tổ công tác giúp Hội đồng xây dựng kế hoạch cụ thể, tiến hành khảo sát, đo đạc, xác định tổng diện tích từng vùng. Vụ đông-xuân 1981-1982, Đại Mỗ tiến hành giao ruộng khoán đến nhóm và người lao động. Hợp tác xã cũng tiến hành định giá trâu bò, công cụ, phân cho từng nhóm lao động rồi trả tiền dần. Để bảo đảm sức kéo, một số gia đình đã bỏ vốn mua trâu bò riêng. Năm 1982 đàn trâu bò của xã lên tới 163 con, cao hơn hẳn những năm trước. Theo cơ chế mới, sản xuất nông nghiệp được chia thành 8 khâu, trong đó hợp tác xã phụ trách 5 khâu (làm đất, thuỷ lợi, giống, phân bón, phòng trừ sâu bệnh); các hộ gia đình và xã viên đảm bảo 3 khâu (gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch). Các hộ xã viên phấn khởi chủ động chăm lo đồng ruộng của mình hơn, đầu tư thích hợp và có trách nhiệm trong công việc, không kể ngày giờ để cấy trồng kịp thời vụ. Những trì trệ trước đây thường hay cấy muộn, nhưng từ khi giao khoán chỉ cấy trong vòng từ 10 đến 15 ngày đảm bảo thời vụ, đúng kỹ thuật.
 
Bên cạnh những kết quả ban đầu, quá trình thực hiện cơ chế khoán cũng nảy sinh những vấn đề cần giải quyết. Một số khâu do tập thể đảm nhận không được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, trong khi mức khoán quá cao. Sản lượng vượt khoán không đủ bù các khâu chi phí cần thiết mà xã viên đã bỏ ra. Vì thế số hộ trả ruộng có chiều hướng tăng. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 1982, đã có hơn 40 mẫu ruộng do xã viên trả lại. Đặc biệt việc thu sản phẩm gặp rất nhiều khó khăn, xã viên nợ hợp tác xã nhiều. Năm 1982, do không thu được sản phẩm, xã phải nợ Nhà nước 85 tấn thóc nghĩa vụ. Trong tình hình đó, huyện đã tăng cường cán bộ cùng địa phương khắc phục những tồn tại. Một ban thu sản phẩm của xã do đồng chí chủ tịch Uỷ ban nhân dân làm trưởng ban được thành lập.
 
Năm 1983, Đảng bộ xác định: phải tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị 100 nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển, chú trọng mở rộng ngành nghề, chăm lo cải thiện đời sống nhân dân.
 
Trong những năm 1983-1985, thời tiết diễn biến hết sức phức tạp. Đầu năm rét đậm kéo dài, mạ chiêm-xuân bị chết 70-75%, phải gieo đi, cấy lại đến 3-4 lần. Vụ mùa khi lúa trổ bông lại bị mưa lớn làm hàng chục mẫu ngập chìm trong nước. Năm 1985, lũ ngập 50 mẫu không thu hoạch được và 31 mẫu mất từ 30-70%. Sâu bệnh phát sinh phá hoại chưa từng có. Giá vật tư nông nghiệp lên cao lại thường xuyên thiếu. Song, với sự chỉ đạo thống nhất, sâu sát từ Đảng uỷ đến các chi uỷ với sự nỗ lực của toàn dân nên sản xuất nông nghiệp ở Đại Mỗ vẫn tạo được những chuyển biến mới. Nhân dân trong xã đã bỏ ra hàng trăm ngày công, đào đắp, nạo vét kênh mương, tu bổ hệ thống giao thông nội đồng. Xã còn đóng góp 1.300 công làm nghĩa vụ xây dựng cầu Đôi bắc qua sông Nhuệ nối Đại Mỗ với nội thành. Các giống lúa mới phù hợp với điều kiện đất đai được các hộ tiếp thu nhanh chóng. Công tác bảo vệ thực vật được quan tâm. Do vậy, năng suất, sản lượng hàng năm tăng lên. Năm 1983, đã gieo cấy 574 ha, đạt 96,3% kế hoạch, bằng 112% so với năm 1982; năng suất đạt 59,4tạ/ha, tăng 7,3 tạ so với mức khoán; tổng sản lượng lương thực đạt 1500 tấn. Năm 1984, gieo cấy 579 ha, đạt 97,4% kế hoạch; năng suất đạt 60,6 tạ/ha; tổng sản lượng lương thực là 1.651 tấn. Năm 1985, tổng diện tích cấy trồng là 510 ha, đạt 100,1% kế hoạch, so với năm 1984 bằng 103%; năng suất cả năm đạt 6,9 tấn, tổng sản lượng lương thực là 1.172 tấn. Cây vụ đông tăng về diện tích và sản lượng; năm 1985, đạt 40 ha, bằng 133,3% kế hoạch, so với năm 1984 tăng 23 mẫu. Tổng sản lượng khoai là 140 tấn. Do đó, đã góp phần cải thiện bữa ăn hàng ngày cho người, mặt khác hỗ trợ thức ăn cho chăn nuôi phát triển. Trong 2 năm 1983-1984, xã đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức nghĩa vụ lương thực và thực phẩm đối với Nhà nước. Về lương thực đều hoàn thành chỉ tiêu trên giao: năm 1983 là 496 tấn, năm 1984 là 416 tấn, trong đó chỉ tiêu thóc nếp vượt gần 59 tấn. Hợp tác xã đã trả được nợ của nhà nước năm 1982 là 72 tấn. Về thực phẩm, năm 1983 bán 51,415kg lợn hơi, bằng 103% kế hoạch; năm 1984 bán 58,864kg lợn hơi bằng 107,6% kế hoạch.
 
Ngành nghề thủ công trong nông nghiệp đã củng cố phát triển nghề thảm len xuất khẩu, đào tạo thêm thợ, mở rộng phát triển làm gạch. Hàng năm sản xuất 1.300.000 viên, đáp ứng nhu cầu xây dựng của nhân dân, tăng phần thu nhập của hợp tác xã.
 
Hai hợp tác xã thủ công Tiền Tiến và Hưng Tiến đều trong tình hình khó khăn chung của cả nước về kinh tế, xuất không đủ nhập nguyên liệu phục vụ cho sản xuất của ngành, tơ sợi thiếu nghiêm trọng tưởng chừng xã viên không có việc làm. Giá cả hàng hoá luôn biến động, hợp tác xã Tiền Tiến lại bị cháy máy biến áp. Đời sống người thợ dệt gặp nhiều khó khăn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, trực tiếp là chi bộ, các hợp tác xã đã phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, tìm nhiều biện pháp khắc phục khó khăn, vận động xã viên cho vay vốn mở rộng sản xuất, nhạy bén thay đổi mặt hàng mới như: dệt vải bò, pêcô, khâu tải, thêu áo len… Cải tiến cơ chế quản lý từ bao cấp sang khoán theo định mức nguyên liệu ra thành phẩm; đồng thời dùng biện pháp động viên bằng kinh tế thúc đẩy sản xuất. Công tác quản lý nhất là nguyên liệu đi vào nề nếp, kịp thời xử lý những trường hợp để lãng phí hoặc thiếu trách nhiệm làm thất thoát nguyên liệu của tập thể nên đã hạn chế những mất mát hư hao. Ở hợp tác xã Hưng Tiến, sau một thời gian nội bộ mất đoàn kết, sản xuất trì trệ, từ năm 1983 Đảng uỷ xã đã chỉ đạo kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy, từ đó sản xuất bắt đầu được phục hồi từng bước đi lên. Hợp tác xã chú trọng cải tiến công cụ, thực hiện khoán gọn hai mặt hàng thảm len và xe sợi. Cách làm đó chẳng những đã phát huy được năng lực lao động và tính chủ động của xã viên mà còn tận dụng nguyên liệu nâng cao chất lượng sản phẩm. Bằng vốn tự có, hợp tác xã đã mua được 1 xe ô tô vận tải chủ động đáp ứng nhu cầu chuyên chở hàng hoá và sản xuất. Năm 1985, sau khi chuyển địa điểm, hợp tác xã đã thành lập phân xưởng cơ khí. Từ đó hợp tác xã mạnh dạn đổi mới toàn bộ máy móc thiết bị từ khung gỗ sang khung sắt. Trong thử thách hợp tác xã đã có sáng kiến và sản xuất thành công máy mắc dệt khăn mặt. Sản phẩm được nhiều cơ sở dệt trong thành phố và các tỉnh đến mua và học tập kinh nghiệm. Kết quả đó tạo điều kiện để hợp tác xã nhanh chóng chuyển đổi mặt hàng khi sản xuất cũ gặp khó khăn ách tắc. Nhìn chung từ năm 1983 đến năm 1985, thủ công nghiệp Đại Mỗ năm nào cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch. Chất lượng sản phẩm vẫn được giữ vững. Hợp tác xã Hưng Tiến và Tiền Tiến đều xếp loại khá của ngành, được công ty gia công khen thưởng. Nửa đầu những năm 80, trong đoàn cán bộ kỹ thuật của thành phố sang giúp nước bạn Lào phát triển nghề dệt, hợp tác xã Tiền Tiến đã cử một cán bộ kỹ thuật tham gia góp phần xây dựng tình hữu nghị Hà Nội - Viên Chăn.
 
Hợp tác xã mua bán được củng cố và phát triển, mở thêm cửa hàng ăn uống, hàng khô ở khu vực chợ. Là đơn vị kinh doanh phục vụ nhân dân địa phương, hợp tác xã chủ động khai thác mặt hàng tự doanh như: cày, bừa và các loại nông cụ phục vụ nông nghiệp; muối, nước chấm, hàng tạp hoá, đồng thời duy trì giết mổ lợn phục vụ dân sinh. Hợp tác xã còn phối hợp cùng ban thương nghiệp làm tốt công tác quản lý thị trường, giữ vững giá hàng bán ra; nhiều năm giữ vững đơn vị tiên tiến, được huyện công nhận là tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa năm 1985.
 
Hợp tác xã tín dụng tích cực vận động nhân dân gửi tiền tiết kiệm. Năm 1985, số tiền huy động gửi được 101,933 đồng đạt 145,6% kế hoạch, ngoài ra hợp tác xã còn tiến hành thu nợ đến hạn đảm bảo nhanh gọn. Để tăng vốn hoạt động, hợp tác xã đã vận động phát triển 659 cổ phần. Các đối tượng được vay vốn hỗ trợ sản xuất hàng năm tăng lên. Ngoài nhiệm vụ huy động vốn và cho vay, hợp tác xã đã làm tốt công tác uỷ thác trả tiền tuất các gia đình chính sách, tiền lương đối với cán bộ hưu trí, trợ cấp thương tật đối với thương binh đúng kỳ hạn.
 
Sự nghiệp giáo dục được Đảng bộ, chính quyền quan tâm đang từng bước phát triển. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, xã đã huy động các cơ quan đóng trên địa bàn đóng góp nguyên vật liệu: gạch, ngói, xi măng, sắt thép xây dựng, tu bổ trường lớp. Chất lượng giảng dạy của thầy cô giáo đi vào nề nếp. Chất lượng học tập của học sinh có nhiều tiến bộ. Nhà trường đã khắc phục tình trạng yếu kém trong những năm 1983-1984, vươn lên xếp loại khá của huyện năm 1985. Tỷ lệ học sinh chuyển lớp đạt 95%. Trường mẫu giáo gồm 12 lớp với 400 cháu. Cơ sở vật chất của trường hàng năm được đầu tư, quy hoạch gọn gàng, có 4 cô giáo đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp huyện và thành phố. Nhà trường liên tục được công nhận là tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa.
 
Ngành y tế được kiện toàn nhân viên phục vụ, tổ chức phân công túc trực ngày đêm khi có bệnh nhân đến trạm. Với sự giúp đỡ của cấp trên, xã đã xây dựng 10 giường công trợ. Hàng năm cùng với phòng y tế huyện tổ chức khám sức khoẻ cho anh em thương binh và thân nhân liệt sĩ nhân ngày 27/7. Phong trào vệ sinh phòng bệnh được mở rộng ở các thôn xóm. Năm 1985, Đại Mỗ được công nhận dứt điểm 3 công trình vệ sinh. Trạm y tế phối hợp chặt chẽ cùng các đoàn thể vận động sinh đẻ theo kế hoạch, góp phần giảm tỷ lệ sinh xuống còn 1,64%. Thực hiện chính sách xã hội chính quyền xã đã đề nghị huyện cấp trên 5 tấn gạo của Liên hiệp quốc hỗ trợ trận mưa lũ tháng 11/1984. Tổ chức xét trợ cấp cho 22 hộ neo đơn gặp nhiều khó khăn. Theo sự chỉ đạo của huyện, xã đã vận động nhân dân và các cơ quan xây dựng quỹ tình nghĩa.
 
Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ phát triển kinh tế phải luôn gắn với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đảng bộ xã Đại Mỗ rất coi trọng lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng quốc phòng toàn dân vững mạnh. Đã thành lập 3 tổ an ninh làm nhiệm vụ tuần tra canh gác giữ gìn trật tự trị an. Phát hiện, xử lý nhiều vụ trộm cắp, đánh bạc. Dân quân xã đã tổ chức biên chế thành 2 đại đội mạnh được huấn luyện định kỳ, luôn sẵn sàng chiến đấu và giữ vai trò xung kích trong chống lụt bão.
 
Bộ máy chính quyền được củng cố thông qua các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân xã duy trì đều đặn việc tiếp xúc cử tri. Nội dung các kỳ họp được chuẩn bị chu đáo. Hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã đi vào chiều sâu, chỉ đạo, quản lý có hiệu quả các hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng.
 
Công tác xây dựng Đảng được chú trọng trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng bộ tổ chức thực hiện nghiêm túc các đợt sinh hoạt chính trị nhằm quán triệt nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng, Nghị quyết lần thứ VIII Đại hội Đảng bộ thành phố, Nghị quyết Đại hội lần thứ XV Đảng bộ huyện Từ Liêm và các chủ trương của Trung ương về công tác xây dựng Đảng như: Chỉ thị 103 của Ban Bí thư Trung ương về xây dựng Đảng bộ vững mạnh. Qua học tập, nhận thức và vai trò trách nhiệm của cán bộ, đảng viên được nâng lên. Hoạt động của Ban chấp hành từng bước được cải tiến đi sát các chi bộ để cùng các Ban chi uỷ lãnh đạo sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và các lĩnh vực công tác. Các chi bộ duy trì chế độ sinh hoạt định kỳ, đi sâu nắm bắt nhiệm vụ chính trị đề ra kế hoạch triển khai cụ thể khơi dậy tiềm năng lao động, sáng tạo của đảng viên và nhân dân. Hàng năm việc bình xét, phân loại đảng viên được duy trì tốt. Năm 1985, trong tổng số 165 đảng viên, qua phân loại: đảng viên xuất sắc: 4 đồng chí, đảng viên tích cực: 135 đồng chí, đảng viên trung bình: 20 đồng chí, đảng viên yếu: 2 đồng chí (có 4 đảng viên không phân loại). Về chi bộ, loại khá có: 9, loại trung bình: 4, loại yếu: 2.
 
Mặt trận Tổ quốc có nhiều chuyển biến, tích cực tham gia xây dựng Đảng bộ, chính quyền, vận động quần chúng chấp hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, thực hiện các phong trào: mua công trái, xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng quỹ thọ. Hội phụ nữ thi đua thực hiện phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” ; hăng hái trong sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và chăn nuôi; kết hợp chặt chẽ với ngành y tế vận động chị em đặt vòng tránh thai, giảm tỷ lệ phát triển dân số, thực hiện luật hôn nhân gia đình. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã sau khi được củng cố đã tích cực hoạt động đi vào bề sâu. Hăng hái tham gia quản lý thiếu niên, nhi đồng trong dịp hè, hưởng ứng đợt phát động của huyện đoàn, vận động đoàn viên, thanh niên bán thóc tiết kiệm cho nhà nước.
 
Qua 10 năm phấn đấu thực hiện nhiệm vụ khôi phục phát triển kinh tế - xã hội (1976-1985), Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ đã trải qua bao khó khăn thiếu thốn trong bối cảnh đất nước vừa có hoà bình vừa có chiến tranh, thiên tai liên tiếp xẩy ra, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã kìm hãm sự phát triển kinh tế trong nhiều năm. Dưới sự lãnh đạo của Thành uỷ Hà Nội, huyện uỷ Từ Liêm, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ đã nỗi lực phấn đấu từng bước tháo gỡ khó khăn, giữ vững các mặt hoạt động của xã. Những kết quả đạt được để lại cho Đại Mỗ những bài học kinh nghiệm để bước vào thời kỳ mới.
 
II. THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUÊ HƯƠNG (1986 - 2005)
 
1. Những năm đầu trong sự nghiệp đổi mới (1986 - 1990)
 
Đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục lâm vào cuộc khủng hoảng. Trong khi đó, Mỹ xiết chặt bao vây cấm vận kinh tế làm cho những khó khăn về kinh tế - xã hội càng trở nên gay gắt hơn; hầu hết các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cơ bản đều không hoàn thành, hàng hoá vật tư ngày càng khan hiếm, lạm phát ở mức cao, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
 
Trước tình hình đó, tháng 12/1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới mà nội dung cốt lõi là: đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, đổi mới phong cách làm việc, đổi mới tổ chức và cán bộ, nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược là: xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, chuyển hoạt động kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Đại hội mở ra thời kỳ phát triển mới cho cách mạng nước ta.
 
Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng được Đảng bộ xã Đại Mỗ tổ chức quán triệt, học tập trong toàn Đảng bộ. Qua đợt học tập, các đảng viên Đại Mỗ đều nhất trí cao với những quan điểm của Trung ương về yêu cầu cấp bách của việc đổi mới đặc biệt là quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật và quan điểm đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế. Nhìn chung, qua học tập trong Đảng bộ có sự thống nhất cao về tư tưởng, xác định rõ về trách nhiệm của Đảng bộ nói chung cũng như từng đảng viên nói riêng.
 
Trên tinh thần đó, tháng 3/1987, Đảng bộ xã Đại Mỗ tổ chức đại hội đại biểu lần thứ XVIII. Đại hội đã tập trung trí tuệ để đánh giá đúng thực trạng và tìm ra giải pháp cho những vấn đề kinh tế - xã hội cụ thể của địa phương; bằng mọi biện pháp phấn đấu cấy hết diện tích, bảo đảm năng suất, sản lượng; làm tốt công tác thuỷ lợi; mở rộng mặt hàng thủ công nghiệp theo hướng đổi mới, chú ý các mặt hàng tiêu dùng… Đại hội đã bầu Ban chấp hành nhiệm kỳ mới gồm 11 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Văn Đảng được bầu làm Bí thư Đảng uỷ.
 
Sau Đại hội, tháng 7/1987, cử tri trong xã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân xã khoá 14 nhiệm kỳ (1987-1989) gồm 40 đại biểu.
 
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ và kế hoạch của UBND xã Đại Mỗ, Đảng bộ, chính quyền đã tiến hành hàng loạt các biện pháp như đề cao vai trò quản lý từ hợp tác xã đến các đội sản xuất; mặt khác chủ trương phát huy tính tích cực chủ động của xã viên, khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân thi đua sản xuất, vừa đẩy mạnh chuyên canh và thâm canh, vừa mở mang một số ngành nghề. Cùng với tu sửa hệ thống mương máng cũ, xã huy động lực lượng đắp mương lấy nước từ La Khê tưới cho khu Đống Trục đã bị bỏ hoang nhiều năm. Hai cống tiêu nước khu Giao Quang cũng hoàn thành đưa vào sử dụng.
 
Tuy nhiên, trong những năm 1986-1987, thời tiết không thuận. Đầu năm 1986 rét đậm kéo dài, đến tháng 7, tháng 9/1986 mưa lũ lớn, sang năm 1987 thời tiết nắng ấm nhiều, mạ phát triển nhanh, đến thời vụ một số mạ già, cấy rồi lại phải nhổ đi cấy lại (63 mẫu); sâu bệnh phát triển như sâu cuốn lá, bọ dày, nhất là bọ xít v.v… đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất lương thực. Cũng trong năm 1987, Nhà nước ban hành một số chính sách mới thực hiện bù giá vào lương, xoá bỏ tem phiếu một số mặt hàng, giá cả thị trường tự do tăng vọt. Đối với nông nghiệp, điện, phân hoá học, thuốc trừ sâu phục vụ sản xuất thiếu. Lúc này, cơ chế “khoán 100” càng bộc lộ nhiều bất cập. Về cơ bản đây vẫn là cơ chế quản lý tập thể bao cấp. Bộ máy quản lý vẫn cồng kềnh. Điều hành sản xuất vẫn quan liêu. Việc kết hợp 3 lợi ích (Nhà nước, tập thể và người lao động) thiếu hài hoà. Lợi ích của người lao động chưa được quan tâm làm cho nông dân kém phấn khởi, sản xuất chậm phát triển.
Nhằm khắc phục những hạn chế của “khoán 100”, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 về “đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” (gọi tắt là khoán 10). Với Nghị quyết này, người sản xuất khi nhận ruộng “khoán 10” được hưởng 40-45% tổng sản lượng được giao theo diện tích; thuế nông nghiệp và các chi phí sản xuất thanh toán với hợp tác xã (thuỷ lợi, phân bón, làm đất…) không quá 60% tổng sản lượng. Trách nhiệm và lợi ích của người nông dân thực sự gắn bó chặt chẽ và làm chủ mảnh đất được giao. Theo Nghị quyết 10, hợp tác xã nông nghiệp chuyển từ vai trò quản lý kinh tế, kỹ thuật sang làm dịch vụ kinh doanh tổng hợp.
 
Nhân dân Đại Mỗ đón nhận Nghị quyết 10 với niềm tin và phấn khởi. Đất đai, mức khoán được giao ổn định, xã viên hợp tác xã chủ động đầu tư sản xuất, tìm tòi giống mới, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, đẩy mạnh thâm canh. Bộ máy điều hành của hợp tác xã gọn nhẹ. Quyền chủ động sản xuất của xã viên được phát huy tới mức tối đa. Diện tích cây vụ đông mở rộng như khoai tây, rau các loại. Hệ số quay vòng của đất tăng. Thôn Ngọc Trục có hệ số quay vòng lên 2,3 lần. Nông nghiệp Đại Mỗ có bước phát triển mới, nếu như năm 1987, sản lượng lương thực đạt gần 1.100 tấn và năng suất 6,5 tấn/ha thì năm 1988, sản lượng tăng lên 1.340 tấn, năng suất đạt 8,16 tấn/ha.
 
Về chăn nuôi, nhờ sự mở rộng việc khoán bao thầu, nên xã đã đảm bảo được diện tích nuôi cá, thu nhập từ ngành nuôi cá chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu thu nhập của hợp tác xã (năm 1987 thu được 43.5720 đồng). Ngoài cá, việc chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng bắt đầu phát triển. Tính đến hết năm 1988, đàn trâu bò có 447 con.
 
Để tăng cường tích luỹ góp phần giải quyết tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm, bên cạnh sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã đã chủ động phát triển các ngành nghề phụ đó là: nghề làm thảm len. Mặc dù gặp nhiều trở ngại như phải đi lấy nguyên vật liệu từ xa, việc bảo quản khó, song hợp tác xã vẫn duy trì để giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận lao động. Nhìn chung doanh thu dệt thảm mỗi năm đều tăng. Nghề làm gạch cũng gặp không ít khó khăn: đất làm gạch mỗi ngày mỗi ít đi, việc quản lý lỏng lẻo v.v… song nghề làm gạch vẫn tồn tại và đáp ứng nhu cầu xây dựng của hợp tác xã cũng như gia đình xã viên. Năm 1987, sản xuất được 500.000 viên, giao nộp cho nhà nước 320.000 viên, bán cho gia đình liệt sĩ 40.000 viên, còn lại xây 2 cống tiêu nước ở khu vực Giao Quang, trị giá 3,3 triệu đồng.
 
Về sản xuất thủ công nghiệp, các hợp tác xã: Tiền Tiến, Hưng Tiến, Tự Lực đều mở rộng ký hợp đồng với các cơ sở gia công. Một số mặt hàng mới được đưa vào sản xuất như: Ga ba đin, vải pê cô, vải bò. Hợp tác xã chủ động tìm nguồn nguyên liệu làm ra những sản phẩm trước đây chưa làm: xe chiếu bẹ ngô, thổi túi màng mỏng pô li ti len, mở lò vôi v.v… Những sáng kiến kỹ thuật tiếp tục được phát huy. Hợp tác xã Tiền Tiến đã sản xuất thử thành công mặt hàng thảm đay hoa nổi. Cơ sở sản xuất được tăng cường một bước. Năm 1987, hợp tác xã Hưng Tiến xây dựng được 590m2 nhà xưởng, trang bị thêm 1 xe ô tô vận chuyển hàng trị giá gần 3 triệu đồng. Hợp tác xã Tiền Tiến cũng đưa vào sử dụng trụ sở làm việc mới. Cả 3 hợp tác xã đều hoàn thành chỉ tiêu trên giao (xem bảng).
 
Tên HTX
Năm
GTTSL trên giao
Thực hiện
Đạt kế hoạch
Tiền Tiến
1987
8.200.000đ
9.156.412đ
111%
1988
8.500.000đ
8.776.600đ
103%
Hưng Tiến
1987
6.000.000đ
9.187.542đ
153%
1988
7.200.000đ
10.307.146đ
143,15%
Tự Lực
1987
1.300.000đ
1.151.351đ
87%
1988
1.300.000đ
1.439.000đ
110%
 
Cùng với sản xuất nông nghiệp và phát triển ngành nghề, các mặt công tác khác của Đại Mỗ trong giai đoạn 1986-1990 cũng có nhiều cố gắng và đạt được những thành tích đáng kể.
 
Hợp tác xã mua bán đã hoàn thành tốt các kế hoạch được giao. Ngoài sự cố gắng bảo đảm những nhu cầu cần thiết phục vụ nhân dân, hợp tác xã mua bán Đại Mỗ còn bán các mặt hàng đại lý, hàng tự doanh.
 
Hợp tác xã tín dụng, thực hiện Chỉ thị 523 của Ngân hàng Nhà nước, hợp tác xã đã mạnh dạn thu hồi đồng tiền nhàn rỗi trong dân, động viên được phong trào quần chúng gửi tiết kiệm, góp phần xây dựng quê hương, phục vụ nhân dân và tập thể trong xã như: Cho hợp tác xã Tự Lực vay 1 triệu đồng mua máy xát gạo, cho xã viên thủ công vay vốn để sửa chữa công cụ sản xuất, cho xã viên nông nghiệp vay mua trâu, bò, lợn, gà, phân bón đạt hiệu quả.
 
Nông thôn Đại Mỗ đang đổi mới. Chợ Mỗ được quy hoạch lại. Trụ sở làm việc của Đảng uỷ, UBND và hợp tác xã nông nghiệp được xây dựng mới. Trường lớp xây thêm đáp ứng nhu cầu học tập như khu mẫu giáo xóm Đình, 5 phòng cho học sinh cấp I thôn Ngọc Trục, 4 phòng học (mỗi phòng 54m2) cho học sinh cấp II… Đặc biệt từ năm 1990, cùng với việc đầu tư xây dựng trạm biến thế Cầu Đôi 320KWA đã giải quyết được điện cho sản xuất và phục vụ sinh hoạt trong nhân dân.
 
Trên lĩnh vực văn hoá, xã hội, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ cũng có nhiều chuyển biến. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, trường mẫu giáo vẫn giữ vững truyền thống” Dạy tốt, học tốt”. Với tổng số học sinh gần 500 em, tỷ lệ khá giỏi thường xuyên đạt 60%. Lòng nhiệt tình mến trẻ, các cô đã đem tâm huyết của mình vì thế hệ mầm non. Năm 1987, trường có 85% số giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 1 cấp thành phố và 3 đồng chí được bầu là chiến sĩ thi đua. Trường đã duy trì và giữ vững 19 năm liền là trường tiên tiến. Cơ sở vật chất của trường phổ thông cấp I, cấp II được quan tâm. Chất lượng giáo dục phổ thông được nâng lên, tỷ lệ học sinh lên lớp và tốt nghiệp hàng năm trên 80%.
 
Hoạt động văn hoá-thông tin được đẩy mạnh. Hệ thống đài truyền thanh được củng cố đã kịp thời tuyên truyền, phổ biến những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước, tin tức thời sự, thiết thực phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương.
 
Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân nhất là cụ già, trẻ em và gia đình chính sách luôn được Đảng bộ, chính quyền quan tâm. Y tế xã đã thực hiện tiêm chủng mở rộng cho các cháu từ 0 đến 6 tuổi đạt 100%. Trạm y tế kết hợp với Hội chữ thập đỏ và các đoàn thể thường xuyên vận động nhân dân thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh; phun thuốc diệt muỗi, tiêm chủng phòng ngừa bệnh dịch. Cán bộ dân số kế hoạch hoá gia đình phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể tích cực tuyên truyền trong nhân dân, nhất là chị em ở độ tuổi sinh sản thực hiện không đẻ sớm, đẻ dày.
 
Mặc dù trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng uỷ, chính quyền cùng các đoàn thể xã vẫn luôn quan tâm chăm lo công tác xã hội, tiến hành thống kê nắm chắc những hộ thuộc diện chính sách, thương binh, gia đình liệt sĩ, những hộ khó khăn để vận động nhân dân, các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp đóng trên địa bàn ủng hộ giúp đỡ. UBND và các đoàn thể với nhiều hình thức vận động tuyên truyền, bàn bạc thực hiện chính sách xã hội với tinh thần “Lá lành đùm lá rách”. Đặc biệt chính quyền xã đã thực hiện tốt nhiệm vụ tiếp nhận và chi trả lương hưu cho cán bộ hưu trí, mất sức đảm bảo an toàn, nhanh gọn và thuận lợi.
 
Bên cạnh những khó khăn về kinh tế và đời sống, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội năm 1989-1990 trên cả nước và Thủ đô diễn biến phức tạp, bọn phản động trong nước và quốc tế câu kết mở chiến dịch “Chuyển lửa về quê hương”, gia tăng các hoạt động chống phá, tuyên truyền tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, âm mưu xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
 
Xã Đại Mỗ ở cuối huyện Từ Liêm, giáp ranh với nhiều xã của huyện Hoài Đức và thành phố Hà Đông thuộc tỉnh Hà Tây. Địa bàn xã rộng, có trục đường 70+72 chạy dọc qua xã, các đầu mối giao thông nên an ninh, an toàn xã hội thường diễn biến phức tạp. Từ những đặc điểm trên, Đảng uỷ xã có nghị quyết chuyên đề về công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Uỷ ban xã có kế hoạch củng cố Ban công an xã, đồng thời phối hợp với các đoàn thể quần chúng tổ chức vận động nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 07 của Ban Thường vụ Thành uỷ, kế hoạch của huyện Từ Liêm, Ban công an xã đã tham mưu cho Đảng uỷ, chính quyền xây dựng phương án giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn. Chấp hành Chỉ thị 135 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Chỉ thị 194 của Thành uỷ, xã đã xây dựng, củng cố các đội bảo vệ từ xã đến thôn, tổ chức tuần tra canh gác, trấn áp tội phạm.
Cùng với tấn công tội phạm, xã còn áp dụng nhiều biện pháp chủ động phòng ngừa. Thực hiện Chỉ thị số 11 của UBND thành phố, Đảng uỷ đã chỉ đạo UBND phối hợp với Ban công an, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quản lý, giáo dục, cảm hoá các đối tượng lầm lỗi, có tiền án tiền sự, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của từng người, giúp họ xoá đi mặc cảm, tự cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
 
Công tác quân sự địa phương, hàng năm xã tổ chức xét duyệt thanh niên trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự, gọi khám sức khoẻ, xét tuyển, giao quân đủ chỉ tiêu kế hoạch.
 
Gắn với các phong trào cách mạng của địa phương, hệ thống chính trị của xã Đại Mỗ ngày càng được củng cố và trưởng thành.
 
Ngày 19/11/1989, cử tri Đại Mỗ đã tham gia bầu cử HĐND xã khoá 15, nhiệm kỳ 1989-1994 gồm 45 đại biểu.
 
Sau bầu cử HĐND, bộ máy chính quyền xã từng bước được củng cố, nâng cao hiệu lực điều hành các mặt hoạt động. Năm 1990 là năm đầu tiên thực hiện Luật tổ chức HĐND và UBND, UBND thành phố có Quyết định số 3940/QĐ-UB ngày 25/8/1990 về phân cấp cho xã. Đảng uỷ, UBND đã xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền, từng bước củng cố kiện toàn đội ngũ cán bộ cơ sở, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, cải tiến lề lối, phương pháp làm việc theo hướng gần dân, sâu sát công việc. Cuối năm 1990, thực hiện Quyết định số 240 (ngày 26/6/1990) của Hội đồng Bộ trưởng và Chỉ thị số 20 của Ban Thường vụ Thành uỷ về đấu tranh chống tham nhũng, Đảng uỷ đã chỉ đạo UBND xã thành lập Ban chỉ đạo chống tham nhũng, có sự tham gia của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thành viên. Ban chỉ đạo đã thống nhất thông qua kế hoạch, biện pháp chỉ đạo thực hiện với phương châm: làm thường xuyên, nghiêm túc, thận trọng, khách quan, có trọng điểm… Tuy nhiên, những năm sau, do dân ngại nói, cán bộ đảng viên ngại va chạm, đấu tranh phê bình và tự phê bình trong Đảng chưa mạnh, tư tưởng né tránh còn phổ biến, nên kết quả đấu tranh chống tham nhũng còn hạn chế.
 
Hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể giai đoạn này gặp nhiều khó khăn, kinh phí hoạt động ít, cán bộ chuyên trách thiếu và yếu. Đảng uỷ chủ trương củng cố, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên, trước hết về tổ chức và cán bộ. Tiếp đó, Đảng uỷ chỉ đạo chặt chẽ đại hội đoàn thể, thông qua đó lựa chọn những cán bộ nhiệt tình, năng nổ, có năng lực giới thiệu vào các vị trí chủ chốt của các đoàn thể.
 
Hội phụ nữ Đại Mỗ hăng hái tham gia phong trào “Xây dựng người phụ nữ mới”, phụ nữ giúp nhau làm kinh tế và nuôi con khoẻ dạy con ngoan. Cuộc vận động giúp nhau làm kinh tế đã được Hội phụ nữ phối hợp với Hội nông dân xây dựng chương trình cụ thể: giúp nhau khai thác vốn, phương thức phát triển kinh tế. Hội phụ nữ còn có vai trò tích cực trong các phong trào vận động gửi tiền tiết kiệm, mua công trái, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, quyên góp quần áo gửi ra biên giới, nơi bão lụt… Năm 1990, xã có 3 chị được Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam tặng Huy chương “Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ” (1).
 
Hội phụ lão xã được Đảng uỷ quan tâm chăm lo tới lợi ích của hội viên, gắn bó tình làng, nghĩa xóm ngày càng thu hút được đông đảo hội viên. Trong một số hoạt động của xã Hội phụ lão đóng vai trò tích cực như: công tác hoà giải, giáo dục thanh thiếu niên chậm tiến, vận động nhân dân tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp.
 
Đoàn thanh niên xã hoạt động còn khó khăn, song đã tham gia tích cực một số mặt công tác: Triển khai thực hiện Chỉ thị 135/HĐBT về lập lại trật tự kỷ cương đô thị, thực hiện luật nghĩa vụ quân sự, văn hoá văn nghệ…
 
Hội nông dân Đại Mỗ bước đầu đổi mới về tổ chức, nội dung phương thức hoạt động. Trong cơ chế mới, Hội đi vào những hoạt động thiết thực gắn với mục tiêu kinh tế của địa phương, của hội viên, của mỗi gia đình, khai thác tiềm năng về lao động, vốn, hỗ trợ nhau trong làm ăn.
 
Hội cựu chiến binh xã, tuy mới thành lập giữa năm 1990 nhưng đã sớm phát huy bản chất “Bộ đội cụ Hồ “gương mẫu mọi mặt, làm gương cho con cháu noi theo, phối hợp với các đoàn thể trong Mặt trận, đóng góp tích cực vào phong trào cách mạng địa phương.
 
Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đổi mới, công tác xây dựng Đảng được đẩy mạnh. Trọng tâm công tác xây dựng Đảng là tăng cường công tác chính trị tư tưởng trong tình hình mới, triển khai thực hiện Chỉ thị 19 của Thành uỷ về “Làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng”. Đảng uỷ, các chi bộ, từng đảng viên nghiêm túc tiến hành tự phê bình và phê bình, phát hiện và xử lý những đảng viên thoái hoá biến chất.
 
Năm năm (1986-1990) thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ vẫn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, từng bước đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Bước đi ban đầu còn chập chững có sự đan xen giữa cái cũ, cái mới. Sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng bộ còn có những tồn tại, yếu kém, thiếu sót. Nhưng kết quả ban đầu về kinh tế xã hội và kinh nghiệm lãnh đạo đã tạo đà để Đại Mỗ vươn lên trong giai đoạn tiếp theo.
 
2. Tiếp tục thực hiện sự nghiệp đổi mới (1991-1995)
 
Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm (1991-1995) trong bối cảnh quốc tế và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô làm cho phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa lâm vào thoái trào. Chúng ta mất chỗ dựa vững chắc trên nhiều mặt, mất cả thị trường tiêu thụ nhiều mặt hàng xuất khẩu. Ở trong nước, công cuộc đổi mới vẫn đang trong quá trình thực hiện, tuy nhiên kinh tế - xã hội chưa thoát khỏi khủng hoảng, còn gặp nhiều khó khăn.
 
Trong bối cảnh đó, tháng 6/1991, Đại hội lần thứ VII của Đảng đã tiếp tục lựa chọn con đường đổi mới đưa đất nước đi lên bằng chính sức mạnh nội lực của toàn dân tộc. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, đề ra đường lối đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước và phương châm phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt.
 
Theo tinh thần đó, năm 1991 Đảng bộ xã Đại Mỗ tiến hành Đại hội lần thứ XX. Đại hội chỉ rõ: cán bộ và nhân dân nhìn chung rất tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Nhân dân bắt đầu có kinh nghiệm về sản xuất hàng hoá, làm quen với kinh tế thị trường. Tuy nhiên, Đại Mỗ là xã ven đô, chịu sự tác động của quá trình đô thị hoá nên dẫn đến tình trạng diện tích đất đai của xã ngày càng bị thu hẹp, ảnh hưởng đến sản xuất. Trên cơ sở đó, Đại hội đề ra phương hướng nhiệm kỳ mới và bầu Ban chấp hành Đảng bộ, đồng chí Nguyễn Văn Thướcđược bầu làm Bí thư Đảng uỷ.
 
Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XVIII Đảng bộ huyện Từ Liêm và Nghị quyết Đại hội lần thứ XX Đảng bộ xã Đại Mỗ, năm 1991, Đảng uỷ, UBND xã chỉ đạo tiếp tục thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 33 của UBND thành phố Hà Nội, giao ruộng đất lâu dài cho xã viên. Năm 1992, triển khai thực hiện Chương trình 06 của Thành uỷ về xây dựng nông thôn mới.
 
Để tiếp tục đưa nông nghiệp phát triển, được huyện Từ Liêm đầu tư kinh phí xây dựng hệ thống mương tưới với chiều dài 4km trên tổng chiều dài 12km kênh mương, xã đã từng bước cải tiến công tác quản lý, đẩy mạnh thâm canh bằng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đầu tư hợp lý các loại giống lúa mới có năng suất cao, thuần chủng như: C70, C71. Cơ cấu cây trồng vụ đông (1993-1994) cũng được thay đổi, đã đưa cây đậu tương vào sản xuất. Những cố gắng trên đã mang lại những chuyển biến mới trong nông nghiệp. Năm 1992, năng suất lúa đạt 8,9 tấn/ha; năm 1993 là 9,1 tấn/ha.
 
Về chăn nuôi, đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp, Đại Mỗ luôn giữ vững đàn trâu bò cày kéo và sinh sản ở mức 350 con. Sản xuất thực phẩm, đàn lợn nái 250 con, lợn bột 2800 con, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã có thêm đàn gà công nghiệp có trọng lương cao, nhanh thu hoạch, đặc biệt có một số hộ đầu tư nuôi con đặc sản: ba ba, cá trê lai có giá trị kinh tế rất cao.
 
Thực hiện nhiệm vụ trồng rừng, được sự giúp đỡ của Phòng nông nghiệp huyện Từ Liêm, hợp tác xã đã triển khai công tác trồng rừng, phân tán theo dự án. Với cây ăn quả như cam, bưởi cũng phát triển, có những hộ gia đình thu nhập từ kinh tế vườn tới 3-4 triệu đồng/năm. Mặc dù không phải là vùng quy hoạch của huyện, nhưng Đại Mỗ đã có mô hình làm cây cảnh, cây hoa, rau mầu.
 
Với tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương nghiệp, thực hiện Chỉ thị 32 của UBND thành phố, năm 1992 xã đồng ý giải thể 2 cơ sở thủ công nghiệp, từ đó một số cán bộ và xã viên tự đầu tư vốn thành lập tổ hợp dệt duy trì nghề thủ công, tự giải quyết việc làm. Nhạy bén trong cơ chế thị trường, cùng với tổ hợp dệt, thời gian này Đại Mỗ đã có 9 tổ hợp và doanh nghiệp tư nhân, thu hút hàng trăm lao động có việc làm thường xuyên, lương bình quân từ 180 ngàn đến 250 ngàn đồng/tháng.
 
Hoạt động dịch vụ thương nghiệp ngày càng phát triển. Dựa vào thế mạnh của chợ Mỗ, trục đường 70 và 72, nhiều gia đình mở cửa hàng bán đại lý tạp phẩm, khoảng 10% tổ hợp gia đình có số vốn kinh doanh sản xuất từ 10 triệu đến 100 triệu đồng, góp phần thu hút lao động. Các nghề phụ truyền thống nông thôn cũng phát triển khá như gò hàn xóm Tháp; đậu phụ An Thái; phên nứa, bánh đa nem, thảm len Ngọc Trục. Năm 1994-1995, giá trị tổng thu nhập sản lượng nông nghiệp, thủ công nghiệp, ngành nghề đạt 12,2 tỷ đồng (trong đó thủ công nghiệp dịch vụ 2,2 tỷ đồng). Được sự chỉ đạo sát sao của Đảng uỷ, UBND xã, hợp tác xã tín dụng duy trì hoạt động thu hút tiền dư chưa dùng đến gửi quỹ tín dụng xã đến cuối năm 1995 có số dư hơn 1 tỷ đồng. Trong đó đã giải quyết cho các đoàn thể vay 800 triệu, Hội cựu chiến binh 137 triệu. Nhân dân vay vốn ngân hàng Từ Liêm và Hà Tây 500 triệu đồng từ các dự án vay vốn được quỹ quốc gia hỗ trợ đã tạo nhịp độ sản xuất kinh doanh, góp phần làm giảm hộ nghèo năm 1994 là 5% xuống còn 2% năm 1995.
 
Kinh tế khởi sắc, bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi. Trong những năm 1991-1995, cùng với sự đầu tư của huyện và đóng góp của nhân dân, xã đã được nâng cấp các công trình hạ tầng bước đầu đáp ứng một phần phát triển sản xuất và nhu cầu cuộc sống như: cải tạo hệ thống giao thông nông thôn, đường liên thôn trải nhựa, rải đá cấp phối; các thôn xóm được gạch hoá (xóm Tháp 90%, xóm Chợ Ngọc Trục 90%, xóm Đình 85%). Hệ thống điện lưới được cải tạo nâng cấp đã cung cấp điện sinh hoạt cho nhân dân 24/24 giờ tạo điều kiện kinh doanh, sản xuất, lắp đặt đèn cao áp chiếu sáng. Tuyệt đại đa số các hộ dân có nhà ngói, nhà mái bằng; tiện nghi sinh hoạt như: xe gắn máy, ti vi mầu, phương tiện thông tin luôn được thay đổi. Các di tích lịch sử văn hoá được Đảng uỷ, chính quyền và các đoàn thể quan tâm quản lý tôn tạo ngày càng nâng cao giá trị. Lễ hội cổ truyền được toàn dân tham gia, đáp ứng yêu cầu giao lưu văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
 
Phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá được nhân dân hưởng ứng, trở thành nề nếp. Số hộ đăng ký phấn đấu đạt gia đình văn hoá mới hàng năm là 80%; nhiều gia đình văn hoá tiêu biểu, người tốt việc tốt được biểu dương khen thưởng.
 
Dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, UBND xã và các ngành đoàn thể đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chính sách xã hội đối với gia đình liệt sĩ, thương binh, những người có công, tạo thành phong trào “đền ơn đáp nghĩa “sâu rộng. Hàng năm vào các ngày lễ, tết, ngày kỷ niệm thương binh liệt sĩ 27/7 đều được tổ chức trang trọng; thăm hỏi tặng quà, tổ chức khám chữa bệnh các gia đình chính sách chu đáo. Phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng đã hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, vận động nhân dân và các cơ quan đơn vị quyên góp hàng trăm triệu đồng vào quỹ xây nhà tình nghĩa. Kết quả đã xây được 02 nhà tình nghĩa, tu sửa nâng cấp nghĩa trang liệt sĩ, cấp đất cho 1 thương binh nặng và vợ liệt sĩ, nâng cấp cho 2 ngôi nhà gia đình liệt sĩ khó khăn, xin cấp 150 thẻ bảo hiểm y tế cho thân nhân gia đình chính sách, 56 thẻ bảo hiểm y tế cho gia đình hộ nghèo cô đơn, tặng 43 sổ tiết kiệm. Ngoài ra, nhân dân trong xã còn đóng góp ủng hộ đồng bào bị bão lụt tỉnh Sơn La, Lai Châu 4 triệu đồng, ủng hộ nhân dân Cu Ba 3 triệu đồng.
 
Thực hiện Nghị định số 28/CP của Hội đồng Chính phủ về ưu đãi người có công với cách mạng, Đảng uỷ và UBND xã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể lập danh sách đề nghị cấp trên xét tặng 938 huân, huy chương các loại cho những người có công trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đảm bảo chính xác, đúng tiêu chuẩn.
 
Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình hoạt động có kết quả. UBND đã triển khai kết hợp với Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ mở rộng mạng lưới cộng tác viên xuống tận cơ sở, có chương trình, kế hoạch chỉ đạo tuyên truyền vận động từng gia đình, bước đầu đã giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 1,9% (năm 1992) xuống 1,56% (năm 1993) và 1,53% (năm 1994) đã được Ban truyền thông dân số huyện xếp loại khá, được khen thưởng.
 
Công tác chăm sóc trẻ em được quan tâm. Thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, hưởng ứng chương trình hành động “Vì trẻ em”. Trạm y tế xã được củng cố, phối hợp với Hội chữ thập đỏ phục vụ ngày càng tốt hơn công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh. Tổ chức cho 100% các cháu trong độ tuổi được tiêm chủng mở rộng, uống vắc xin phòng bại liệt, uống Vitamin A và khám sức khoẻ định kỳ. Vận động nhân dân tham gia giữ gìn vệ sinh, duy trì phong trào tổng vệ sinh hàng tuần.
 
Cùng với phát triển kinh tế-xã hội, công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cơ chế thị trường đặc biệt quan trọng. Mâu thuẫn nội bộ trong dân nảy sinh, tiêu cực trong sử dụng quản lý đất đai, trong xây dựng, thiếu ý thức pháp luật, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng.
 
Trước tình hình đó, Đảng uỷ đã chỉ đạo sát sao việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 135/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, Chương trình 05-CTr/TU ngày 13/4/1992 của Thành uỷ Hà Nội về “Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Thủ đô trong tình hình mới”, Chỉ thị số 57 của UBND thành phố, Kế hoạch 17-KH/TU của Thành uỷ, chỉ đạo của công an huyện, các ban, ngành, đoàn thể ở các cơ sở, tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh mạnh mẽ với âm mưu thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, đóng góp thiết thực vào phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng uỷ và UBND xã, Ban công an xã đã tổ chức được lực lượng an ninh thường trực tổ dân phòng ở các thôn xóm, sẵn sàng giải quyết những vụ việc. Tuần tra phát hiện giải tán nhiều đám bạc, xử lý 30 vụ, thu 3.600.000 đồng; giải quyết các vụ tranh chấp đất đai, đánh người gây thương tích, trộm cắp tài sản tập thể. Phối hợp với các cơ quan trên địa bàn và các xã lân cận xây dựng vành đai an toàn khu vực. Ban công an cùng với đội dân phòng đã phối hợp giải quyết mâu thuẫn nội bộ, làm gạch trái phép, lều quán lấn chiếm đất công. Quán triệt việc thi hành Chỉ thị 406/CP của Chính phủ về cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển và đốt pháo nổ trong dịp Tết Ất Hợi, xã đã thu giữ gửi lên cấp trên 6 tạ pháo. Đội ngũ dân phòng hoạt động có hiệu quả, hỗ trợ UBND xã đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện cho nhân dân yên tâm sản xuất, kinh doanh. Được huyện cấp danh hiệu đội dân phòng quyết thắng.
 
Công tác quân sự địa phương có nhiều chuyển biến. Lực lượng dân quân được củng cố, tham gia đầy đủ các chương trình huấn luyện, tổ chức diễn tập theo kế hoạch N02 chống bạo loạn, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nắm chắc thanh niên đến độ tuổi nghĩa vụ đi khám tuyển quân, bảo đảm khám đủ giao quân đủ chỉ tiêu. Phối hợp với các ngành đoàn thể giải quyết dứt điểm cho một số anh em lạc ngũ, động viên một số anh em trở lại đơn vị, tiếp nhận anh em hoàn thành nhiệm vụ trở về địa phương. Tham gia đầy đủ các chương trình huấn luyện, tham dự hội thao quốc phòng và hội thao dân quân tự vệ do huyện đội tổ chức. Đầu năm 1995, theo kế hoạch của huyện đội, 46 anh em dân quân tự vệ tập trung huấn luyện trong 10 ngày đều đảm bảo đúng kỷ luật học tập, kỹ thuật chuyên môn khá, giỏi. Trong phong trào xây dựng đơn vị dân quân tự vệ quyết thắng, xã Đại Mỗ luôn giữ được đơn vị tiên tiến xuất sắc nhiều năm (tiên tiến 1993, 1994; quyết thắng 1992, 1995).
 
Nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, Đảng bộ xã Đại Mỗ luôn chăm lo công tác xây dựng Đảng, Đảng uỷ đã tổ chức học tập sâu rộng trong cán bộ đảng viên các nghị quyết của Trung ương, Thành uỷ, Huyện uỷ. Trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, công tác xây dựng Đảng về tư tưởng được đặt lên hàng đầu. Đảng uỷ nhận định: trong cán bộ, đảng viên có những đồng chí bàng quan, ít quan tâm đến tình hình, một số dao động không dám đấu tranh, giảm sút ý chí và nhiệt tình cách mạng, không muốn nhận công tác; ý thức tổ chức kỷ luật chấp hành nghị quyết kém, ngại sinh hoạt Đảng. Những nhận thức và biểu hiện tư tưởng đó ảnh hưởng nhất định đến phong trào, đến tổ chức cơ sở và chất lượng cán bộ, đảng viên.
 
Từ thực trạng trên, Đảng uỷ đề ra các nhiệm vụ cấp bách về công tác tư tưởng trong toàn Đảng bộ; tuyên truyền giáo dục những quan điểm, đường lối của Đảng để nâng cao nhận thức, củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng; giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã nhận rõ âm mưu “Diễn biến hoà bình” của đế quốc; nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, đấu tranh với những luận điệu phản động. Trong 2 năm 1992-1993, tình hình tư tưởng trong Đảng và nhân dân từng bước ổn định, vững tin và tích cực hành động thực hiện công cuộc đổi mới. Xuân năm 1992, Đảng uỷ đã tổ chức gặp mặt các chiến sĩ du kích năm 1945 làng Đại Mỗ; xuân 1994, tổ chức gặp mặt các cán bộ và đảng viên có 40 tuổi Đảng, gặp mặt các chiến sĩ Điện Biên nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng Điện Biên.
 
Đồng thời cùng với tăng cường công tác tư tưởng, từ năm 1993, Đảng bộ xã triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá VII) và Chường trình 14-CTr/TU của Thành uỷ về “Đổi mới và chỉnh đốn tổ chức cơ sở Đảng”. Đảng uỷ đã xây dựng kế hoạch cụ thể, liên hệ kiểm tra đánh giá tình hình từng cấp uỷ, chi bộ. Chế độ sinh hoạt chi bộ duy trì đều hàng tháng, nội dung được cải tiến có chất lượng phù hợp với yêu cầu lãnh đạo tại cơ sở. Đội ngũ cán bộ, đảng viên bước đầu được sàng lọc, trong sạch hơn. Năm 1992-1994, toàn Đảng bộ có 277 đảng viên sinh hoạt trong 11 chi bộ, trong đó có 268 đồng chí tham gia đợt phân loại chất lượng đảng viên: có 54 đồng chí xếp loại I (phát huy vai trò tiền phong gương mẫu), 160 đồng chí xếp loại II, 50 đồng chí xếp loại III, 4 đồng chí xếp loại IV. Công tác kiểm tra Đảng được tiến hành thường xuyên, Đảng uỷ chú trọng chỉ đạo các hoạt động của Uỷ ban kiểm tra như: Xét đơn thư tố cáo của đảng viên, xét kỷ luật đảng viên… Hai năm qua Đảng uỷ quyết định kỷ luật cảnh cáo và đề nghị khai trừ 1 đồng chí, xoá tên 2 đảng viên, khiển trách 1. Năm 1994-1995, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn tổ chức cơ sở Đảng, chất lượng đảng viên ngày càng được nâng cao. Thời gian này Đảng bộ có 11 chi bộ với tổng số đảng viên là 275 đồng chí, trong đó 8/11 chi bộ đạt tiêu chuẩn vững mạnh, 3/11 chi bộ đạt loại khá. Số đảng viên đạt tiêu chuẩn phát huy vai trò tiền phong gương mẫu tăng lên với 168 đồng chí, bằng 63,4%; về kỷ luật đảng: cảnh cáo 2 đảng viên, khiển trách 1 đảng viên. Về phát triển Đảng, trong 2 năm 1994-1995, Đảng bộ đã kết nạp được 3 đảng viên mới.
 
Công tác cán bộ, qua các đợt củng cố tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, Đảng uỷ đã cử 2 đồng chí học trung cấp lý luận chính trị, 1 đồng chí học quản lý hành chính. Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, xã đã mở lớp học ngay tại địa phương cho 80 cán bộ, bí thư chi bộ, trưởng thôn, ban ngành.
 
Theo sự chỉ đạo của thành phố và Huyện uỷ, giữa năm 1994, Đại hội lần thứ XXI Đảng bộ xã Đại Mỗ được tiến hành trọng thể. Với tinh thần trách nhiệm cao, Đại hội tập trung trí tuệ thảo luận tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XX, nhất trí thông qua nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ trong những năm 1994-1996, bầu Ban chấp hành khoá mới, đồng chí Nguyễn Văn Thước được bầu làm Bí thư Đảng uỷ.
 
Về công tác chính quyền, tổ chức bộ máy của HĐND và UBND xã ngày càng được củng cố. Các kỳ họp HĐND được chuẩn bị chu đáo, đại biểu phát biểu thẳng thắn, vai trò các đại biểu HĐND được phát huy. UBND có nhiều cố gắng cải tiến lề lối làm việc và phương pháp công tác, đổi mới thủ tục hành chính, tăng cường trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động ở địa phương đúng pháp luật và nghị quyết của HĐND.
 
Ngày 20/11/1994, cử tri trong xã phấn khởi tham gia bầu cử HĐND 3 cấp. HĐND xã Đại Mỗ nhiệm kỳ 1994-1999 được bầu ra gồm 25 đại biểu. Tại phiên họp đầu tiên, HĐND bầu đồng chí Nguyễn Đắc Thiết làm Chủ tịch HĐND xã.
 
Thực hiện nghị quyết của HĐND, UBND xã từng bước kiện toàn bộ máy hoạt động đội ngũ trưởng thôn, nâng cao chất lượng. Kiện toàn một số ban công tác trực thuộc UBND như: Ban dân số, Ban tư pháp, Ban thanh niên và chi hội chữ thập đỏ; lập lại kỷ cương quản lý đất đai, xử lý những trường hợp vi phạm theo luật và quy định của địa phương, giải quyết hoà giải 113 trường hợp tranh chấp lấn chiếm đất đai. UBND xã xây dựng và thực hiện quy chế làm việc nghiêm túc, sinh hoạt định kỳ đều đặn, hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ngày càng được nâng cao.
 
Song song với việc chăm lo xây dựng chính quyền, Đảng uỷ coi trọng lãnh đạo công tác Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Thực hiện Nghị quyết 8B của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) và Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị về “Đại đoàn kết toàn dân, tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất”, Mặt trận Tổ quốc đã tập hợp các tầng lớp nhân dân thực hiện các phong trào thi đua ở địa phương, thực hiện các chính sách của Đảng, Nhà nước, hướng dẫn Hội người cao tuổi hoạt động đúng điều lệ.
 
Hội phụ nữ được củng cố kiện toàn, Hội đã bám sát 5 chương trình công tác của Thành hội, thực hiện Quyết định 163/QĐ-HĐBT về phụ nữ tham gia quản lý hành chính nhà nước, chủ động phối hợp với chính quyền và Mặt trận Tổ quốc tuyên truyền vận động hội viên tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương: phòng chống suy dinh dưỡng, ly sữa quả trứng, gửi tiền tiết kiệm, giúp đỡ vay vốn cho chị em làm kinh tế gia đình. Đoàn thanh niên có nhiều cố gắng đẩy mạnh các hoạt động ở thôn xóm với nhiều hình thức: văn hoá-văn nghệ, thể dục thể thao, tổ chức cho thanh thiếu niên sinh hoạt hè. Hội nông dân đến cuối năm 1995 có 900 hội viên đã cùng với hợp tác xã nông nghiệp hướng dẫn hội viên áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong việc chọn giống lúa, nuôi con gì? đưa vào từng hộ chăn nuôi, cấy trồng đạt hiệu quả. Hội cựu chiến binh được kiện toàn, tính đến năm 1995 có 114 hội viên. Qua 5 năm hoạt động, Hội chủ động tham gia công tác an ninh trật tự, tuyển quân và hậu phương quân đội. Hội duy trì phổ biến thời sự chính sách cho hội viên, ngoài ra còn tổ chức các hoạt động tham quan, sinh hoạt truyền thống, quan tâm đến đời sống của hội viên, tham gia xây dựng kinh tế, quản lý xã hội.
 
Qua 10 năm (1986-1995) thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ đã vượt qua nhiều khó khăn mang lại những kết quả quan trọng. Cùng với kinh tế tập thể, kinh tế hộ gia đình và kinh tế cá thể có nhiều khởi sắc. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đều hoàn thành. Hệ thống chính trị được củng cố. Những đổi thay ban đầu ở Đại Mỗ đã mang lại niềm tin, phấn khởi, tạo động lực để Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ tiếp tục tiến bước trong thời kỳ tiếp theo.
 
3. Xây dựng xã Đại Mỗ vững mạnh, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996-2005)
 
Năm 1996, Đảng bộ xã Đại Mỗ tiến hành Đại hội lần thứ XXIII (nhiệm kỳ 1996-2000). Đại hội đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XII, thông qua phương hướng nhiệm vụ trong những năm tới với nội dung cơ bản là: tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên môn hoá, tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật, đưa giống lúa có năng suất cao vào đồng ruộng. Xây dựng vùng cao sản, vùng lúa đặc sản. Cải tạo vườn tạp, đưa cây có giá trị vào thay thế. Khuyến khích phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản, cây cảnh, cây ăn quả; đa dạng ngành nghề sẵn có, dịch vụ lưu thông. Tiếp thu đầu tư phát triển công nghiệp vào địa phương. Tạo và thu hút việc làm cho cơ sở.
 
Đại hội đã bầu Ban chấp hành khoá XXIII gồm 13 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Đắc Thiết được bầu làm Bí thư Đảng uỷ.
 
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIII, trong sản xuất nông nghiệp, Đảng uỷ xã đã chỉ đạo chuyển đổi hợp tác xã theo luật, từ hợp tác xã theo mô hình cũ thành hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp; tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP của Chính phủ. Hội đồng giao đất được thành lập do đồng chí chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã làm chủ tịch hội đồng. Việc giao ruộng theo phương châm tiện canh, tiện cư, xoá bỏ tình trạng ruộng đất manh mún, đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 1000 hộ dân, đạt 87%. Hợp tác xã chú trọng làm tốt khâu dịch vụ thuỷ lợi, cung cấp đủ nước cho dân cày cấy. Phối hợp với phòng nông nghiệp huyện và trung tâm khuyến nông bồi dưỡng nâng cao kiến thức khoa học kỹ thuật về trồng trọt và chăn nuôi cho nông dân. Chú trọng kinh tế hộ, kinh tế trang trại, thúc đẩy người lao động hăng hái sản xuất, khai thác tiềm năng đất đai, tạo nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế. Trong số 280 ha canh tác, bước đầu chuyển đổi 10 ha sang trồng hoa, cây ăn quả. Trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nạn sâu bệnh, chuột bọ phá hoại nhiều nhưng được sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Đảng uỷ, chính quyền, nhân dân Đại Mỗ đã vượt qua khó khăn bảo đảm cấy trồng trong khung thời vụ, cấy hết diện tích, đồng thời mạnh dạn đưa giống lúa mới cho năng suất cao vào sản xuất trên diện rộng: CR203, C70, C71… đầu tư thâm canh tăng vụ. Năng suất lúa bình quân hàng năm đạt từ 85-90tạ/ha, tổng sản lượng lương thực đạt 2.380 tấn. Các loại cây ăn quả và hoa đạt 191 triệu đồng. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển nhất là các hộ gia đình, bảo đám sức cày kéo và cung cấp nguồn phân hữu cơ phục vụ nông nghiệp. Đàn lợn thường xuyên đạt từ 6000 đến 6500 con, trong đó lợn nái là 150 con. Phong trào VAC không ngừng mở rộng. Số hộ vào hội làm vườn ngày một tăng, đã chuyển giao phổ biến kỹ thuật chăm sóc chiết ghép tạo giống tới từng hội viên. Xã còn tổ chức cho nông dân đi tham quan học hỏi kinh nghiệm với các xã bạn về mô hình trang trại nhỏ.
 
Theo quan điểm đổi mới tư duy trước hết là tư duy kinh tế, nhân dân Đại Mỗ đã nhanh chóng thích ứng với nền kinh tế thị trường. Các ngành nghề phụ: tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, chế biến nông sản ngày một phát triển, góp phần giải quyết lao động dôi dư trong nhân dân lúc nông nhàn, tăng thu nhập.
 
Tổng thu nhập hàng năm của xã đạt 20 tỷ đồng, tăng 7,8 tỷ đồng so với năm 1994-1995. Bình quân một ha canh tác đạt gần 45 triệu đồng. Số dư trên vay hàng năm của các dự án là 2 tỷ 700 triệu đồng cùng với vốn vay của các thành phần kinh tế khác hàng trăm triệu đồng đã thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống, hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống 1%, xã không còn hộ đói, số hộ khá là 60%, hộ giàu là 20%.
 
Về xây dựng cơ bản, cùng với nguồn vốn các cấp hỗ trợ, sản xuất phát triển, xã có một phần tích luỹ để phục vụ xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng. Trong 5 năm (1996-2000) bằng nguồn vốn ngân sách đã lát gạch 5000m đường, đổ bê tông hệ thống thoát nước là 3000m. Nhân dân đóng góp xây dựng được 2000m đường bê tông, 4000m đường lát gạch. Đã tiến hành nâng cấp trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, trạm xá xã, chợ sáng. 5 năm qua, xã đã đào đắp, nạo vét hàng nghìn mét khối kênh mương, lát gạch 5000m mương dẫn nước, đặc biệt là xây dựng hệ thống mương tiêu Ngọc Trục khắc phục tình trạng úng ngập nhiều năm. Để phục vụ sinh hoạt của nhân dân, xã đã hoàn thành lắp đặt giếng nước sạch xóm Ngang, đưa vào sử dụng hệ thống nước sạch xóm Tháp. Hệ thống điện được tập trung đầu tư nâng cấp, lắp đặt trạm biến áp 320KW và thay thế các thiết bị đã cũ nát.
 
Cùng thời gian này đã tiến hành xây mới đình Đại Mỗ trên diện tích 7 gian đình cũ, trùng tu, nâng cấp các di tích lịch sử văn hoá khu vực chùa Cả, đình chùa Ngọc Trục bằng sự hỗ trợ của nhà nước và nhân dân đóng góp; củng cố, cải tạo, chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ.
 
Hoạt động thu, chi ngân sách trên địa bàn xã đảm bảo thực hiện đúng luật. Năm 1998, xã thu ngân sách đạt 1.276.985.230đ, chi 1.273.876.063đ. Năm 2000, thu 1.747.735.844đ, chi 2.452.777.000đ.
 
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), công tác giáo dục của xã có nhiều tiến bộ. Cơ sở vật chất như: trường, lớp, đồ dùng dạy học… được quan tâm đầu tư thường xuyên. Các cháu nhà trẻ thường xuyên có từ 300 đến 350 cháu, mẫu giáo từ 350-360 cháu, trường tiểu học có trên 1000 học sinh, trường trung học cơ sở có 700-800 em. Chất lượng dạy và học ngày một nâng cao. Tỷ lệ học sinh lên lớp, thi tốt nghiệp các cấp thường xuyên đạt từ 85-90%. Các trường quan tâm đến giờ học thực hành, hoạt động ngoại khoá, văn hoá-văn nghệ, thể dục thể thao.
 
Trạm y tế xã được quan tâm đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị. Đội ngũ cán bộ nhân viên y tế nêu cao tinh thần, thái độ phục vụ, chăm sóc, điều trị sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời các ổ dịch, hạn chế không để xẩy ra lây lan. 100% các cháu ở độ tuổi được tiêm chủng vắc xin phòng các loại bệnh theo quy định. Công tác chống suy dinh dưỡng cho bà mẹ, trẻ em được triển khai thường xuyên, hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em xuống còn 18,5%. Thực hiện chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình, các câu lạc bộ truyền thông dân số tích cực hoạt động tuyên truyền, giáo dục cho nam nữ thanh niên ở độ tuổi sinh sản kết hợp với các biện pháp phòng tránh thai đảm bảo tỷ lệ sinh hàng năm đều giảm 0,05%. Tỷ lệ sinh con thứ ba cũng giảm mạnh, từ 11 trường hợp năm 1997 còn 2 trường hợp năm 2000. Qua các chiến dịch truyền thông dân số, đa số người dân trong xã ý thức được việc kế hoạch hóa gia đình để tập trung phát triển kinh tế, nuôi con khoẻ, dạy con ngoan.
 
Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao ngày càng chiếm ưu thế. Hệ thống truyền thanh được đầu tư nâng cấp, loa truyền thanh được mắc ở tất cả các trọng điểm cư dân trong xã, tạo điều kiện truyền tải các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương tới người dân. Việc quản lý các di tích lịch sử văn hoá và hướng hoạt động lễ hội bảo đảm lành mạnh không để xảy ra các biểu hiện tiêu cực. Hoạt động thể dục thể thao phát triển mạnh, toàn xã có 4 đội bóng đá, có câu lạc bộ dưỡng sinh.
 
Phong trào nếp sống văn minh, gia đình văn hoá được duy trì, củng cố, hoạt động có chiều sâu, được đông đảo các hộ gia đình đăng ký. Hàng năm có 99% số hộ đăng ký phấn đấu gia đình văn hoá, trong đó số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá đạt 88%.
 
Thực hiện chính sách xã hội được Đảng uỷ, chính quyền và các tổ chức đoàn thể đặc biệt quan tâm. Từ năm 1996 đến 2000, đã tặng 70 sổ tiết kiệm cho các gia đình chính sách. Hàng năm vào dịp lễ, tết, 27/7, Đảng uỷ đều tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình chính sách. Xã đã làm thủ tục đề nghị trên xét tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho 2 mẹ. Tổ chức lễ truy tặng danh hiệu liệt sĩ cho 4 trường hợp, đón nhận 12 hài cốt liệt sĩ đưa về nghĩa trang liệt sĩ của xã. Ban Thương binh xã hội bảo đảm cấp phát các chế độ đối với các đối tượng chính sách và chi trả lương hưu đầy đủ, đúng thời gian, không nhầm lẫn.
 
Công tác an ninh quốc phòng được thực hiện tốt. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã luôn đề cao ý thức cảnh giác đấu tranh phòng ngừa có hiệu quả đối với âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch và hành vi gây rối của bọn tội phạm hình sự. Đảng bộ, chính quyền đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân hăng hái tham gia phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng thôn xóm an toàn. Lực lượng công an, dân phòng, tổ hoà giải, tổ an ninh nhân dân được củng cố, hoạt động tích cực, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa phương. Việc phòng chống các tệ nạn xã hội được coi trọng, đặc biệt là tệ nghiện hút, ma tuý, cờ bạc, mại dâm không để phát sinh, phát triển. Lực lượng dân quân được củng cố làm tốt công tác quản lý và huấn luyện quân sự hàng năm. Thực hiện chủ trương của trên, xã tổ chức diễn tập theo phương án PX99 được Quân khu Thủ đô đánh giá đạt kết quả xuất sắc.
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã có những đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động. Các kỳ họp của Hội đồng nhân dân được chuẩn bị chu đáo, thực hiện đúng luật. Uỷ ban nhân dân xã không ngừng được củng cố, hoạt động nề nếp, từng bước nâng cao vị trí, vai trò quản lý xã hội, giáo dục tuyên truyền hướng cho mọi công dân thực hiện tốt pháp luật nhà nước, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
 
Ngày 14 tháng 11 năm 1999, cử tri trong xã đi bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp nhiệm kỳ 1999-2004. Hội đồng nhân dân xã được cử tri lựa chọn bầu ra 25 đại biểu. Hội đồng nhân dân đã họp bầu các chức danh Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân theo quy định của pháp luật.
 
Thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 29/CP của Chính phủ, Đảng uỷ đã lãnh đạo Uỷ ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc triển khai xây dựng các quy chế và quy ước dân chủ ở cơ sở.
 
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được kiện toàn qua các kỳ đại hội. Đảng bộ đã bố trí, sắp xếp, phân công các đồng chí cán bộ đảng viên có điều kiện, năng lực tham gia đảm nhiệm các vị trí chủ chốt của Mặt trận và các đoàn thể. Các buổi giao ban triển khai nghị quyết hàng tháng của Đảng uỷ, các đồng chí chủ chốt các tổ chức này đều được mời dự qua đó lĩnh hội nghị quyết của Đảng uỷ, sau về căn cứ vào tình hình nhiệm vụ, chức năng của mình để triển khai cho phù hợp.
 
Mặt trận Tổ quốc xã thực sự phát huy là trung tâm đoàn kết toàn dân, tập hợp thu hút được sức mạnh tổng hợp của quần chúng trong việc xây dựng địa phương cũng như tham gia công tác xây dựng Đảng bộ, chính quyền. Cuộc vận động  “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” được Mặt trận quán triệt là mục tiêu xuyên suốt trong kế hoạch công tác hàng năm.
 
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã động viên thế hệ trẻ hăng hái xung kích vào các phong trào nhất là phong trào thi đua lao động sản xuất, lập nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn cuộc sống; chống tệ nạn xã hội, xây dựng lực lượng thường trực chống bão lụt, xây dựng nếp sống văn hoá. Hội phụ nữ thực hiện tốt 5 chương trình của hội, tham gia tích cực vào các phong trào và mọi hoạt động của địa phương, giúp nhau sử dụng vốn vay vào việc xây dựng, phát triển kinh tế. Ngoài ra, Hội còn tích cực trong phong trào phòng chống tệ nạn xã hội, chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc bảo vệ bà mẹ, trẻ em.
 
Hội nông dân là lực lượng nòng cốt trong sản xuất, tích cực tham gia phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thâm canh cây trồng, chăn nuôi, tổ chức tốt việc cho hội viên vay vốn quốc gia tạo công ăn việc làm mở rộng kinh tế theo mô hình VAC, tăng thu nhập, cải thiện đời sống.
 
Hội cựu chiến binh xã với tổng số 215 hội viên đã gương mẫu đi đầu trong các phong trào, chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật nhà nước, hăng hái thực hiện công tác hậu phương quân đội, phối hợp cùng các đoàn thể hướng dẫn hội viên sử dụng tốt vốn vay vào việc sản xuất, kinh doanh, chăn nuôi, phát triển nghề phụ.
 
Nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ 1996-2000, cũng là thời kỳ đất nước bước vào công nghiệp hoá hiện đại hoá, thực hiện tốt nhiệm vụ, Đảng bộ xã Đại Mỗ luôn coi trọng công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt. Qua các đợt học tập, quán triệt các nghị quyết của Trung ương, của thành phố, đại đa số cán bộ, đảng viên có những chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực tư tưởng, tổ chức, tác phong, đạo đức, lối sống, năng lực, ý thức trách nhiệm được giao, bảo đảm tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý điều hành, các ban ngành, đoàn thể tham mưu với phát huy quyền làm chủ của nhân dân tạo sự đoàn kết thống nhất cao từ trong Đảng ra tới quần chúng, giữ vững ổn định chính trị, xã hội. Các biểu hiện vi phạm dân chủ, thiếu thực tế, xa rời quần chúng được khắc phục, từ đó tạo dựng lòng tin của quần chúng đối với Đảng bộ. Chế độ sinh hoạt chi bộ, rèn luyện, quản lý đảng viên được thực hiện nghiêm túc, giữ nề nếp thường xuyên. Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ chú trong tới công tác tổ chức, đào tạo cán bộ. Hàng năm Đảng uỷ đều tiến hành kiểm tra, rà soát đội ngũ cán bộ. Qua đó, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ từ xã xuống cơ sở phù hợp với năng lực, nhiệm vụ của từng vị trí công tác. Trong 5 năm (1996-2000), xã đã cử 4 đồng chí đi học lớp trung cấp lý luận chính trị, 4 đồng chí học lớp trung cấp quản lý nhà nước; bên cạnh đó còn tổ chức hàng trăm đợt tập huấn cán bộ chuyên ngành đáp ứng kịp thời yêu cầu thực hiện nhiệm vụ.
 
Song song với công tác cán bộ, Đảng bộ xã chú trọng công tác phát triển Đảng. Từ năm 1996 đến 2000, Đảng bộ đã bồi dưỡng kết nạp được 28 đảng viên mới. Thực hiện Thông tri 09 của Thành uỷ, Đảng bộ đã tiếp nhận 105 đảng viên đang công tác về sinh hoạt nơi cư trú.
Công tác phân loại đảng viên, chi bộ được duy trì thường xuyên. Riêng năm 1999, tổng số có 295 đảng viên, trong đó, đảng viên loại 1: 259 đồng chí, loại 2: 27 đồng chí, loại 3: 5 đồng chí, loại 4: 1 đồng chí (3 đồng chí không phân loại). Về chi bộ, trong số 11 chi bộ, có 9 chi bộ đạt vững mạnh, 1 chi bộ khá, 1 chi bộ yếu. Năm 2000, Đảng bộ tiến hành tổ chức đợt tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 và Trung ương 6 (lần 2). Với trách nhiệm cao, qua kiểm điểm tập thể Đảng uỷ, các chi uỷ và toàn thể đảng viên thấy được những kết quả và ưu điểm trong nhiệm kỳ qua, đồng thời cũng nhận rõ những tồn tại, thiếu sót, từ đó có phương hướng sửa chữa, khắc phục.
 
Tháng 10 năm 2000, Đảng bộ xã Đại Mỗ tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XXIV. Đại hội tập trung thảo luận đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIII, xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong những năm 2000-2005 là:
 
- Ra sức đẩy mạnh, phát huy sự năng động, sáng tạo và tiềm năng, thế mạnh vốn có của địa phương, kết hợp chặt chẽ sản xuất lương thưc, thực phẩm với trồng cây ăn quả, khôi phục, củng cố các ngành nghề phụ truyền thống sẵn có của địa phương, sản xuất nông nghiệp hàng hoá, phát triển dịch vụ theo hướng thương mại hoá, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân.
 
- Thực hiện tốt quản lý đất đai, trật tự xây dựng.
 
- Chú trọng công tác giáo dục đào tạo, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
 
- Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
 
- Thường xuyên củng cố hệ thống chính trị thật sự vững mạnh, nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức Đảng, năng lực quản lý của chính quyền.
 
Đại hội đã bầu Ban chấp hành khoá mới nhiệm kỳ 2000-2005 gồm 13 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Trần Chính được bầu làm bí thư Đảng uỷ xã.
 
Thành công của Đại hội đã tạo động lực to lớn để nhân dân Đại Mỗ thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong những năm đầu thế kỷ XXI.
 
Đối với sản xuất nông nghiệp, xã tiến hành quy hoạch các khu vực, tích cực chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ theo hướng sản xuất hàng hoá. Các giống lúa mới có năng suất cao như: Q5, 903, 838, Khang Dân, Bắc thơm… được đưa vào sản xuất trên diện rộng. Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả, bảo đảm tốt các khâu dịch vụ để xã viên yên tâm sản xuất. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ lúa sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao bình quân hàng năm là 2 ha, nâng tổng diện tích trồng hoa và cây ăn quả ngắn hạn lên 18,2 ha. Thu nhập từ hoa và cây ăn quả gấp 3 lần cây lúa. Hàng năm diện tích thâm canh lúa luôn đạt từ 95% diện tích. Năng suất bình quân đạt 10 tấn/ha/năm. Đại Mỗ nhiều năm là một trong những xã dẫn đầu của huyện về năng suất lúa.
 
Chăn nuôi gia súc vẫn được giữ vững; đàn gia cầm thường xuyên có từ 15.000 con đến 17.000 con. Các diện tích mặt nước cơ bản được hợp đồng nuôi thả cá.
 
Đại Mỗ là xã có nhiều nghề truyền thống, như: đan lát ở thôn Ngọc Trục, dệt ở thôn Đình, thôn Ngang, thôn Tháp, thôn Chợ, chế biến đậu phụ ở Giao Quang, An Thái; song do tác động của cơ chế thị trường nên đã chuyển sang các nghề sản xuất chế biến gỗ, làm đồ mộc, gò, hàn, may, xây dựng. Trong 5 năm (2001-2005) đã có 18 công ty tư nhân được thành lập trên địa bàn. Các nghề và công ty đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động, tăng thu nhập cho các hộ gia đình, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Tốc độ tăng trưởng của ngành tiểu thủ công nghiệp và xây dựng hàng năm đạt 13%, so với chỉ tiêu đại hội tăng 3%.
 
Hoạt động thương mại, dịch vụ, vận tải được mở rộng, chất lượng dịch vụ và văn minh thương mại từng bước được nâng lên. Hệ thống các chợ được đầu tư xây dựng nâng cấp, trong đó sửa chữa, nâng cấp chợ sáng, xây mới chợ vật liệu xây dựng. Nhiều cửa hàng, điểm kinh doanh được mở mang, nhất là dọc quốc lộ 70, 72.
 
Tháng 7 năm 2003, thực hiện sự chỉ đạo của huyện uỷ Từ Liêm, Đảng bộ xã Đại Mỗ tổ chức hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ nhằm đánh giá kết quả hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXIV. Xác định mục tiêu, nhiệm vụ những năm còn lại của nhiệm kỳ 2001-2005, hội nghị chỉ rõ: Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, vững chắc. Tích cực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, tập trung giải quyết các vấn đề nổi cộm tại địa phương nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, trật tự xây dựng, các vấn đề tệ nạn xã hội nhất là ma tuý…
 
Với sự cố gắng phấn đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong xã nên cơ cấu kinh tế của Đại Mỗ có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, trong đó ngành tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm 42,6%, ngành thương mại, dịch vụ vận tải chiếm 31,53%, ngành nông nghiệp chiếm 26,86%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 5 năm (2001-2005) bình quân là 9%, tăng 3% so với chỉ tiêu đại hội; thu nhập bình quân đầu người đạt 5,6 triệu đồng, so với chỉ tiêu đại hội tăng 70%. Công tác thu chi ngân sách đi vào nề nếp, đảm bảo đúng các quy định của nhà nước. Các nguồn thu năm sau tăng hơn so với năm trước. 
 
Trong 5 năm (2001-2005) thu ngân sách đạt 23 tỷ đồng, tăng 35% so với kế hoạch, gấp 2,7 lần so với những năm 1996-2000.
 
Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, số hộ giàu tăng nhanh, hộ nghèo giảm còn 0,9%, bộ mặt nông thôn thay đổi đáng kể. Bằng các nguồn vốn đã có hàng chục công trình được xây dựng, sửa chữa nâng cấp với tổng kinh phí 28 tỷ đồng. Toàn xã có trên 90% đường giao thông được bê tông hoá, 100% hộ dân có điện sinh hoạt, 60% hộ dân có nước sạch của trạm nước sạch nông thôn, 7/10 thôn có nhà văn hoá, trường học của 3 cấp cơ bản ổn định, 40% số hộ sử dụng máy điện thoại, 80% số hộ có xe máy và trên 60% số hộ xây nhà kiên cố bền vững.
 
Do tác động của quá trình đô thị hoá, việc quản lý đất đai, trật tự xây dựng gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Các vụ việc về đất đai, như: lấn chiếm đất công, mua bán và chuyển đổi sai mục đích sử dụng đất, mâu thuẫn về tranh chấp đất đai trong nhân dân ngày càng tăng. Tình trạng xây dựng trái phép, không phép diễn ra nhiều, đặc biệt là các thôn: Ngọc Trục, Giao Quang, Ngọc Đại, thôn Ngang, thôn Đình…có thời gian đã gây mất ổn định ở địa phương. Được sự chỉ đạo của huyện Từ Liêm, Đảng uỷ đã có nghị quyết chuyên đề về triển khai nhiều biện pháp để xử lý, đã cơ bản ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất công, chuyển đổi sai mục đích sử dụng đất và xây dựng trái phép. Công tác xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở được quan tâm, đạt 100% chỉ tiêu.
 
Kinh tế khởi sắc là cơ sở để văn hoá - xã hội phát triển. Cơ sở vật chất của các trường được đầu tư đáng kể. Sự phối hợp hoạt động giữa nhà trường, địa phương, hội phụ huynh và gia đình ngày càng chặt chẽ. Chất lượng dạy và học có nhiều tiến bộ. Đội ngũ giáo viên đều chuẩn hoá theo yêu cầu. Trường mầm non có số trẻ tới lớp đạt 88,9%, tăng 8,9% so với chỉ tiêu đại hội. Số trẻ ăn ngủ tại trường năm 2000 có 35% đến năm 2004 đạt 98%. Liên tục từ năm 2000 đến 2004, nhà trường đều đạt danh hiệu tiên tiến. Có 19 giáo viên dạy giỏi cấp huyện và 1 giáo viên giỏi cấp thành phố. Trường tiểu học, 100% các cháu 6 tuổi được vào lớp 1. Hàng năm học sinh khá giỏi đạt trên 80%. 5 năm liền (2000-2004), trường tiểu học đều đạt trường tiên tiến, có 13 giáo viên dạy giỏi cấp huyện. Trường trung học cơ sở, số học sinh khá giỏi đạt 52% em, thi tốt nghiệp đạt 91%, có 6 giáo viên dạy giỏi cấp huyện và 2 giáo viên dạy giỏi cấp thành phố.
 
Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân luôn được quan tâm. Các chương trình y tế (tiêm phòng, tiêm chủng, uống vitamin A, phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống mù loà…) được thực hiện tốt. Ngành y tế phối hợp với các cơ quan liên quan thường xuyên kiểm tra công tác vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm và hoạt động hành nghề y dược. Năm 2003, Đại Mỗ được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế xã.
 
Hoạt động vệ sinh môi trường được đẩy mạnh, 10 thôn đều có tổ dịch vụ thu gom rác hoạt động thường xuyên.
 
Thực hiện chính sách xã hội được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xác định là nhiệm vụ quan trọng. Mọi chế độ đều được đảm bảo đầy đủ không để xảy ra sai sót. Trong 5 năm đã xây 8 nhà tình nghĩa trị giá 210 triệu đồng, tặng 59 sổ tiết kiệm với số tiền gần 12 triệu đồng cho các gia đình chính sách, vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa được 61 triệu đồng. Các hoạt động nhân đạo, từ thiện được nhân dân sôi nổi hưởng ứng.
 
Phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá và thực hiện cuộc vận động” Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá “ngày càng đi vào chiều sâu đã nâng cao ý thức trách nhiệm của các gia đình đối với xã hội. Tất cả 10 thôn đều xây dựng quy ước làng văn hoá, hoạt động hiệu quả, trở thành xã dẫn đầu của huyện Từ Liêm về xây dựng quy ước các thôn.
 
Nhận thức rõ vai trò của công tác an ninh-quốc phòng trong tình hình mới, Đảng bộ, chính quyền xã triển khai nghiêm túc Chương trình 03 của Thành uỷ, Chương trình 09 của Huyện uỷ Từ Liêm về bảo đảm an ninh-quốc phòng và trật tự an toàn xã hội giai đoạn 2001-2005, nhất là thời gian diễn ra bầu cử Quốc hội khoá XI (năm 2002), Đại hội thể dục thể thao Đông Nam Á-Seagame 22 (năm 2003), bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp (năm 2004) và những ngày lễ, kỷ niệm lớn của đất nước và Thủ đô. Đảng bộ lãnh đạo thường xuyên tổ chức phát động phong trào “Quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc: và toàn dân tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm. Ban Công an xã kết hợp chặt chẽ với các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tăng cường công tác hoà giải, giải quyết các đơn thư kiến nghị, đồng thời kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm về đất đai, xây dựng, trật tự xã hội, ma tuý, cờ bạc…
 
Công tác quốc phòng được thực hiện tốt từ việc tuyên truyền giáo dục nhiệm vụ quốc phòng cho nhân dân đến việc tổ chức huấn luyện cho cán bộ chủ chốt xã, cho quân dự bị động viên theo chương trình của cấp trên. Lực lượng dân quân cơ động của xã luôn bảo đảm quân số và tư thế sẵn sàng chiến đấu cao. Công tác tuyển quân được thực hiện dân chủ, chặt chẽ, đúng quy định, hàng năm đều đạt chỉ tiêu trên giao. Công tác quốc phòng 5 năm liền đều đạt đơn vị “Quyết thắng” .
 
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân được nâng cao về chất thông qua quy chế làm việc, năng lực quản lý điều hành thực hiện nhiệm vụ. Uỷ ban nhân dân đã tổ chức thực hiện 3 Đề án của thành phố về “Cải cách hành chính”, “Nâng cao hiệu quả kinh tế”, “Cải thiện môi trường xã hội”; bảo đảm tập trung dân chủ, nêu cao trách nhiệm cá nhân phụ trách. Việc phối kết hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đi vào nề nếp. Năm 2004, xã triển khai thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa”, bước đầu có kết quả, giảm bớt thủ tục phiền hà, tạo niềm tin trong nhân dân.
 
Ngày 25 tháng 4 năm 2004, cử tri trong xã hăng hái tham gia bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp. Hội đồng nhân dân xã Đại Mỗ nhiệm vụ 2004-2009 được bầu ra gồm 30 đại biểu.
 
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có nhiều đổi mới tạo không khí thi đua sôi nổi trên các lĩnh vực. Hàng loạt các phong trào thi đua yêu nước như: “Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, phong trào “Thanh niên tình nguyện”, phong trào “Lao động giỏi”, “Người tốt, việc tốt”, phong trào nông dân “Xoá đói, giảm nghèo”, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, phong trào vệ sinh môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, đảm bảo an toàn giao thông… được đông đảo hội viên, đoàn viên và nhân dân hưởng ứng. Hàng năm Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đều được huyện, thành phố khen và đánh giá là đơn vị có phong trào hoạt động tốt.
 
Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng Đảng, ngay sau Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXIV, Đảng uỷ đã đề ra chương trình “Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị”. Cải tiến nâng cao hiệu quả các đợt học tập quán triệt nghị quyết của Trung ương, Thành uỷ, Huyện uỷ, gắn với xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết. Tổ chức báo cáo thời sự, giới thiệu chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn và thống nhất với quan điểm của Trung ương. Năm 2003-2004, Đảng bộ triển khai sâu rộng đợt học tập 10 chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh và tổ chức các hội thi “Tuyên tuyền viên, báo cáo viên về tư tưởng Hồ Chí Minh”, hội thi “Bí thư chi bộ giỏi”. Quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX) về công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. Qua đó đã tạo bước chuyển mạnh mẽ về nhận thức tư tưởng, cán bộ đảng viên trong Đảng bộ vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới. Cùng với công tác tư tưởng, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được Đảng bộ quan tâm. Từ năm 2001 đến 2005, có 36 đồng chí được đào tạo trung cấp và đại học các trường, 520 đồng chí cán bộ từ xã đến thôn được đi tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
 
Công tác bồi dưỡng phát triển đảng viên mới được Đảng bộ rất chú trọng. Từ năm 2001-2005, Đảng bộ đã kết nạp 40 đảng viên mới. Tổ chức đổi thẻ cho 317 đảng viên. Tiếp nhận 320 đảng viên về sinh hoạt nơi cư trú. Công tác kiểm tra được tiến hành thường xuyên đối với các chi bộ, đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật nhà nước. 5 năm qua Đảng bộ xử lý kỷ luật 13 đồng chí (khiển trách 07 đồng chí, cảnh cáo 04 đồng chí, khai trừ khỏi Đảng 02).
 
Tháng 7 năm 2005, Đảng bộ xã Đại Mỗ tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XXV. Đại hội đã bầu Ban chấp hành nhiệm kỳ mới 2005-2010 gồm 13 đồng chí. Đồng chí Đỗ Tiến Sơn được bầu làm Bí thư Đảng uỷ xã. Đại hội đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXIV, quyết nghị phương hướng, mục tiêu chủ yếu trong những năm 2005-2010 là: Xây dựng xã Đại Mỗ phát triển toàn diện, từng bước ổn định và bền vững, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác tốt các nguồn lực và lợi thế của địa phương để phát triển, chủ động xây dựng quy hoạch thành các khu vực, các vùng sản xuất hàng hoá, thương mại, dịch vụ, sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Chú trọng quản lý đất đai, trật tự xây dựng và công tác quy hoạch đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để vừa đảm bảo cảnh quan và vệ sinh môi trường vừa phải phù hợp với quy hoạch của huyện và thành phố.
 
Gần 20 năm Đại Mỗ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng với sự đan xen khó khăn và thuận lợi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Huyện uỷ Từ Liêm, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ đã nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo thực hiện các nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế - xã hội đạt được kết quả hết sức khả quan. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch phù hợp với định hướng chung của huyện và hướng phát triển thực tế của địa phương. Cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp. Bộ mặt nông thôn Đại Mỗ có sự đổi thay rõ rệt. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện. Với bề dày truyền thống và kinh nghiệm phát huy kết quả đạt được, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ tiếp tục xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá.
 
***

LỜI KẾT
 
Là một xã thuộc ngoại vi Hà Nội, Đại Mỗ có bề dày lịch sử. Trên vùng đất cổ - nơi hợp lưu của hai dòng sông Tô, sông Nhuệ, từ hàng ngàn năm trước, những lớp cư dân đầu tiên đã có công khai cơ lập nghiệp, trồng lúa nước và tạo dựng xóm làng. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, vẫn còn đó những ngôi đình ở Ngọc Trục, Đại Mỗ, Giao Quang, An Thái; những ngôi chùa: Quỳnh Lâm, Phúc Lâm, Linh Thông, Đại Phúc v.v… và nhiều di tích lịch sử văn hoá khác phản ánh quá trình phát triển của các làng xã trên vùng đất này.
 
Trong quá trình xây dựng và phát triển, Đại Mỗ không chỉ giỏi về nghề nông mà còn được nhiều nơi biết đến đó là nghề dệt, hàng nan, làm đậu phụ, v,v.
 
Lịch sử Đại Mỗ còn nổi lên là một vùng khoa bảng, hào kiệt, nhiều người học giỏi đỗ cao và giữ chức quan trọng trong triều đình như: Nguyễn Vũ, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Gia Phan… Nhân dân giàu lòng yêu nước, từ khí phách của những người nông dân dưới ngọn cờ Cần Vương cuối thế kỷ XX đã tạo nên truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất, để tới những năm 30 (thế kỷ XX), Đại Mỗ nhanh chóng trở thành một trong những địa bàn sục sôi cách mạng. Đặc biệt trong 75 năm qua (1930-2005), dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân và Đảng bộ Đại Mỗ đã vượt qua bao khó khăn, thử thách, góp phần làm nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc, rạng rỡ truyền thống quê hương.
 
Không chịu cảnh áp bức bóc lột tàn bạo của chế độ thực dân, phong kiến, khi ánh sáng cách mạng rọi tới Đại Mỗ, đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng, tiến tới khởi nghĩa thắng lợi trong cách mạng tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
 
Chính quyền cách mạng mới thành lập lại đứng trước những thử thách to lớn bởi giặc đói, giặc ngoại xâm. Theo tiếng gọi của Bác Hồ kính yêu, nhân dân Đại Mỗ đồng lòng ra sức củng cố, bảo vệ chính quyền, thi đua diệt giặc đói, giặc dốt.
 
Hơn 8 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó 5 năm bị địch tạm chiếm, nhân dân Đại Mỗ giữ trọn lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Giữa những năm tháng ác liệt, chi bộ Đảng Đại Mỗ được thành lập, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong cuộc kháng chiến bảo vệ quê hương. Mặc dù kẻ địch xây dựng bộ máy tề, nguỵ, thường xuyên càn quét, khủng bố gắt gao những không dập tắt được phong trào cách mạng. Nhiều gia đình bị đánh đập, tra tấn dã man nhưng không hề nao núng. Nhân dân Đại Mỗ một lòng son sắt tin tưởng vào Đảng, vào cách mạng, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, bám đất, bám làng, xây dựng lực lượng tiến lên giải phóng quê hương.
 
Hoà bình lập lại, cùng với miền Bắc, nhân dân Đại Mỗ bắt tay hàn gắn vết thương chiến tranh, đi vào con đường làm ăn tập thể, xây dựng cơ sở vật chất ban đầu của chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, góp phần đưa miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc cho sự nghiệp cách mạng của cả nước.
 
Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ với tinh thần thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai”, chắc tay cày, tay súng, vừa là hậu phương, vừa là tiền tuyến cùng cả nước chống Mỹ, đóng góp sức người, sức của cho miền Nam ruột thịt. Bất chấp mưa bom bão đạn của giặc Mỹ, biến đau thương thành hành động cách mạng, khắc cốt ghi tâm mối thù quân xâm lược, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ đồng tâm hiệp lực, san sẻ khó khăn, khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước xây dựng lại quê hương làng xóm.
 
Trong chặng đường cùng cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; đặc biệt 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ đã nêu cao tinh thần chủ động, phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm. Tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại-dịch vụ tăng; tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần. Nhiều nhà cao tầng kiến trúc đẹp mọc lên. Đường làng ngõ xóm được cải tạo, nâng cấp khang trang. Các di tích lịch sử-văn hoá được tôn tạo. Bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đảng bộ xã không ngừng lớn mạnh, khẳng định vai trò lãnh đạo, tạo niềm tin trong nhân dân. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các đoàn thể được củng cố vững chắc, thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.
 
Tự hào về truyền thống cách mạng, Đảng bộ và nhân dân Đại Mỗ không ngừng phấn đấu vươn lên góp phần cùng cả nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh “.
 
***
 
 

(1) Anh Biều
(2) Một số cán bộ ở Đại Mỗ không bị địch bắt như các anh Bảy Điển, Lạc, Vàng… lên chiến khu Việt Bắc sau lại trở về làng.
(3) Ông Lý Ngòi, lý trưởng Đại Mỗ vì cấp giấy cho một số cán bộ đi Sài Gòn bị Pháp cách chức lý trưởng.
(1) Anh Tín Hà ở Vạn Phúc giao tín phiếu cho anh Chỉnh; bà Nghĩa (tức Cả)
(2) Theo lời kể của ông Nguyễn Hữu Thạc ở Tây Mỗ.
(3) Ông Hai Châu và một số khác.
(1) Ở Đại Mỗ có ông Nguyễn Quý Quý tham gia làm phiên dịch giúp Xứ uỷ tiếp xúc với quân đội Nhật ở thị xã Hà Đông.
(1) Lúc này thôn An Thái, Giao Quang, Ngọc Trục thuộc Uỷ ban bảo vệ tiểu khu Phú Đô. Uỷ ban bảo vệ Đại Mỗ do ông Lê Văn Chỉnh làm chủ tịch. Đến tháng 4/1947, Uỷ ban bảo vệ và Uỷ ban hành chính của các xã sáp nhập thành Uỷ ban kháng chiến hành chính.
(1) Bếp Tý tên thật là Trần Đăng Mẫn, người làng Tây Mỗ, đi lính khố đỏ từ 1930. Tháng 6/1947 sau trận càn của địch vào Tây Mỗ, Bếp Tý đem cả gia đình ra hàng giặc và được Pháp cho làm sếp bốt. Y đã gây nhiều tội ác với nhân dân địa phương: bắn chết 1 du kích xã, giết một lúc 6 thiếu nhi ở Phú Đô, giết 1 ông già đánh dậm và 1 thanh niên ở Đại Mỗ rồi vu cho họ là Việt minh để xoá tội. Y còn đánh đập nhiều người khác đến tàn phế, doạ dẫm để chiếm đoạt tài sản của rất nhiều người, nhất là những người mới ở vùng tản cư về.
(1) Lúc này ở vùng Mỗ có 2 chi bộ Đảng: chi bộ Hữu Hưng phụ trách 2 xã Tây-Đại Mỗ do đồng chí Nguyễn Hữu Dậu làm bí thư. Chi bộ Phú Đô do đồng chí Nguyễn Huy làm bí thư; từ tháng 4 đến tháng 7/1947, kết nạp thêm 6 đảng viên trong đó có các đồng chí Nguyễn Xuân Tề, Nguyễn Hữu Quế, Nguyễn Văn Thân (Giao Quang), Nguyễn Xuân Tiệp, Nguyễn Xuân   (An Thái).
(1)(2) Theo yêu cầu chỉ đạo kháng chiến, đầu năm 1948 các huyện Hoài Đức, Đan Phượng nhập với quận IV thành liên quân huyện I do Thành uỷ Hà Nội chỉ đạo. Tháng 5/1948 Hoài Đức, Đan Phượng tách khỏi liên quận huyện I để thành lập huyện Liên Bắc thuộc tỉnh Lưỡng Hà (Hà Nội - Hà Đông). Tháng 10/1948, tỉnh Lưỡng Hà giải thể, Liên Bắc được cắt trả về Hà Đông.
(1) Năm du kích đó là: Đào Văn Lan, Nguyễn Văn Ngữ (tức Tục), Nguyễn Xuân Vĩnh (Giao Quang), Nguyễn Xuân Dân, Nguyễn Xuân Tiến (An Thái).
(2) Đó là các anh: Nguyễn Huệ, Vinh Đường, Hưng.
(1) Đó là các đồng chí Xuân Tháp (thôn Giao Quang), trung đội trưởng của đại đội ….. Thà (cán bộ huyện đội), Cường (…………..)
(2) Ban cán sự gồm: chị Bản (Tây Mỗ- Trưởng ban), chị Hiền, chị Bính (Tây Mỗ), anh Toàn (Đại Mỗ), chị Báu (xóm Tháp Đại Mỗ), anh ……… anh Ty (Phú Thứ)